Nhà số 4 khe khẽ đông về
Ngày đăng:  

Mùa đông ở đâu cũng buồn. Mùa đông Hà Nội càng buồn.

Vào những chiều buồn như thế tôi thường hay thả bộ tìm về những kỷ niệm qua từng góc phố lao xao gió lạnh. Những kỷ niệm xa xăm mà nếu không có ngọn gió mùa đông này đánh thức, thì con người ta dễ chìm trong triền miên trễ nải hoặc hối hả tận kiệt, trước cuộc mưu sinh vừa có nghĩa vừa vô nghĩa đang giăng ra khắp mọi nẻo đường.

Cuộc thả bộ vẩn vơ ấy, chiều nay, không hiểu sao cái lão già là tôi lại chỉ dừng ở ba điểm. Ba điểm gợi nhắc lên cả một cuộc đời. Phố nhỏ nơi tôi đã sống qua cả một tuổi thơ nhọc nhằn, bờ sông nhiều gió nơi tôi đã từ đó ra đi về phía Nam làm người cầm súng và ngôi nhà mang tên số 4 có hai cây đại già nơi tôi đã lập nghiệp, lập thân.

Nghĩ cho đến nhẽ, số phận con người mới gắn bó với số phận dân tộc làm sao! Như hơi thở, như bóng hình, như lồng khít mà lúc nào đó dẫu có muốn cũng không sao thoát rời ra được.

1. Không có căn phố nhỏ mang tên Tuệ Tĩnh ngan ngát mùi hoa lan, hoa sữa đó thì có lẽ tuổi thơ tôi sẽ trống rỗng nhạt nhòa đi nhiều lắm. Có thể rất nghịch ngợm, rất phá phách, rất đầu bò đầu gấu theo đúng kiểu trẻ con Hà Nội nhưng cái vẻ đẹp buồn của phố, cái vẻ im lìm hoang sơ của cảnh vật lúc ấy đã thấm dần, lặn sâu vào tâm trí tôi thành nỗi nhớ, thành hành trang dịu dàng để sau này tôi cùng với thế hệ của mình làm cuộc đi xa, đi rất xa. Buồn và đói.

Không ti vi, không loa đài, chỉ có gió thổi dọc những hàng cây về phía bãi rác mênh mang hồ Bảy Mẫu, mà bây giờ ta gọi là Công viên Thống Nhất và chỉ cần được ăn một bữa no, với nước rau muống dầm sấu cắn với quả cà muối xổi giòn tan thôi thì đã trở thành một ngày hội. Cũng thế, chỉ cần một cái nhìn hơi lắng lại của cô bạn gái mắt lá răm học cùng lớp ngồi bàn trên thôi, là đã cảm thấy năm đó không có mùa đông.

Dường như cái nghèo lại là bạn đồng hành với sự mộng mơ lãng mạn không cùng. Cái lãng mạn có thể ăn thay cơm. Chính tại đây, tại căn phố nghèo này, tôi đã nếm mùi vị tình yêu đầu đời trên một cái sân thượng rêu phong. Cũng một mối tình nghèo, sạch và thanh như truyện cổ tích, khi toàn thân nóng rực mà không dám bước qua lằn ranh một nụ hôn cuống quýt, để rồi sáng mai từ biệt ra ga Hàng Cỏ xuôi mặt trận.

Hành trang ra đi của người lính chỉ có mỗi lời dặn ngậm ngùi của em: “Anh đi, sau này trở về nhỡ có làm sao thì em sẽ… làm lụng nuôi anh suốt đời”. Mười năm sau, người lính trở về, chả làm sao, vẹn nguyên, nhưng cô đã thành thiếu phụ, chở con của người khác trên chiếc ghế mây buộc đằng sau xe đạp đến thăm.

Một kết cục buồn nhưng không sao, vẫn cám ơn chân thành, câu nói và ánh nhìn của em đã trở thành một điểm tựa, một chỗ dựa linh hồn sâu thẳm để anh, bọn anh có thể đủ sức đi qua được những cánh rừng khốc liệt, cám ơn! Miệng nói cám ơn nhưng lòng dạ buồn tê tái như đã vĩnh viễn mất đi một hương ngọc lan thoảng thơm trong phố nghèo mái ngói.

2. Bờ sông chiều cuối năm cũng thật buồn dẫu rằng vóc dáng công nghiệp một thời mở cửa, một thời hội nhập đang đè nặng, úp chụp xuống cái vẻ lãng đãng nương ngô bãi mía đìu hiu, man mác  ngày nào. Từ bờ sông ánh ỏi sắc phù sa dưới chân cây cầu Long Biên trăm tuổi này, chúng tôi đã lên đường để rồi sáu tháng sau, lại chạm hồn vào một bờ sông khác, nước trong xanh hơn theo tuần trăng hết lớn lại ròng.

Bờ sông Sài Gòn có tiếng bìm bịp kêu ẩm ướt trong lòng nước và tiếng tắc kè khàn khàn gọi tuổi trên chạc cây. Một thế hệ đã từ đây ba lần làm cuộc tiến công khát nắng, khát tự do ra thành phố để rồi hai lần lại quay lưng trở về lặng lẽ. Một thế hệ nằm vùng bên cạnh những cô gái giao liên, du kích, y tá, pháo binh, đặc công khăn rằn vắt vai, áo bà ba dãi dầu trận mạc, súng đậu nặng trên bờ vai chim sẻ để sau một đêm bò rào trở về, em, cô gái đặc công ấy xuống suối gột bỏ đi những mảng ngụy trang đen đúa để hở ra những vết gai cào rớm máu kiêu hãnh và tội tình.

Mùi lưu huỳnh khét nồng trên những bãi bom B52 và mùi tóc gội lá hà thủ ô rừng của em sao cứ ngào trộn, cứ vấn vương vào nhau đến không bao giờ có thể quên được như thế! Mùi chiến tranh, mùi cuộc đời, mùi tình yêu, mùi thời gian, mùi của những tháng năm khổ mà vui. Mười người đi chín người không trở về.

Người trở về cứ cảm thấy như mình có tội, như không hiểu sao lại có thể còn sống mà trở về. Thế là thành nợ, thành ám ảnh nhân tình đau xé với nghĩ suy: “Sống ngày nào lãi ngày đó, được thằng nào còn thằng đó”.

Vậy là đã lãi được trên ba mươi sáu năm rồi, một khoảng thời gian không nhỏ đủ để làm một điều gì đó trả nợ cho đồng đội, cho cuộc đời, cho em, những cô gái vùng ven khi ngã vào lòng đất, trên môi vẫn chưa biết thế nào là cái hương vị ngọt đắng của một nụ hôn.


3. Và đây, ngôi nhà số 4 với vẻ kiến trúc trầm mặc, cổ kính kia đã giúp cho chúng tôi có dịp được trang trải, giãi bày món nợ chiến trường, món nợ nhân tình với bổn phận, thiên chức của người lính buông súng cầm bút nhưng vẫn là binh nghiệp.  

Khi thế hệ “Trung úy” chúng tôi khoác ba lô từ khắp các quân binh chủng, khắp mọi vùng chiến thuật về đây, ngôi nhà đã mang vẻ uy nghiêm, thành kính lắm rồi. Thành kính bởi vóc dạng u trầm của nó hay bởi những  con người mà chỉ khẽ nghe nhắc đến cái tên thôi cũng đã đủ cho chúng tôi buộc phải nghiêng mình kính cẩn. Những cái tên cũng đã gắn bó với các dấu mốc thăng trầm của lịch sử  suốt bao năm tháng qua.

Từ ngôi nhà trầm mặc này, các nhà văn mặc áo lính qua các thời kỳ chiến cuộc trầm mặc trở về và lại trầm mặc ra đi để có những con người tài hoa không bao giờ trở lại. Diện mạo chiến tranh vệ quốc, bức tranh hùng thiêng dân tộc được chính họ lấy khát vọng, tuổi trẻ, tài hoa và dòng máu thanh xuân của mình khiêm nhường vẽ lại.

Họ thở hơi thở của nhân dân cần lao, vui buồn với nỗi vui buồn tận đáy cùng tâm can  của người lính nên phải chăng vì thế mà hình ảnh họ, những trang viết của họ đều thấm đẫm hồn núi sông, nồng nàn cõi thế thái nhân tình.

Tại sao, vâng, tại sao trước cổng ngôi nhà huyền hoặc, thâm nghiêm này lại không có một bức tượng đài về những người lính cầm bút nhỉ? Bởi không có một lực lượng sáng tạo văn học nào lại có thể giữ được độ kiên trung và bền bỉ đến thế. Kiên trung trong bão giông thời chiến, kiên trung trong thời bình, nhọc nhằn và bền bỉ bám giữ trường văn trận bút khốc liệt ngay cả trong những tháng ngày hội nhập, hòa nhập bụi mù, ngang ngửa hôm nay.

Các thế hệ cứ nối tiếp nhau mà lặng lẽ ngồi vào bàn như bước vào trận đánh. Thế hệ đánh Pháp nhìn qua nhìn lại chỉ còn một vài người, ngoài tám mươi cả rồi, vẫn viết. Thế hệ đánh Mỹ, cái thế hệ trung úy ngày nào còn son trẻ ấy, cũng đã vợi đi thật nhiều, vẫn không buông bút và thế hệ hôm nay, mới lạ, trẻ trung, nhanh nhạy cứ tưởng như không còn giữ được hồn vía của cái phong dáng siêu phàm đạo cốt của của các bậc tiền nhân, các bậc đàn anh đàn chị nhưng họ, bằng thế đứng trên nền truyền thống vững chắc để lại hàng ngày vẫn cho ra đời những áng văn, cuốn sách tung phá, táo bạo và không thua kém phần lãng mạn, trữ tình, thâm hậu.

Ở đời, nhiều khi quyền lực lại hấp dẫn hơn học lực. Học lực là cái không dễ nhìn thấy, lặng lẽ, khổ ải, âm thầm nhưng quyền lực lại chói chang, có ngay, tức thời, lấp lánh. Song, trong ngôi nhà mang dáng dấp chùa chiền này lại không có khái niệm về quyền lực. Họ là “úy”, “tá”, “tướng” cả đấy nhưng có ai nhìn nhau, đối xử với nhau qua ánh sáng quân hàm trên ve áo, mà trọng nhau, tin nhau, quý nhau ở cái con chữ có thần hay không có thần hàng ngày họ hiến dâng cho đời. Mỗi một câu thơ, một bài văn hay có sức lay động mãnh liệt bằng cả một binh đoàn mà cổ nhân thường định giá kia mà.

Như vậy, mỗi một nhà văn đích thực họ đều mang trên vai cái quyền uy của một vị tư lệnh binh đoàn, nhiều binh đoàn, đó là nhân dân, là lịch sử.

Lại nữa, quyền lực chỉ thực sự đem lại nỗi đam mê tầm thường khi nó gắn liền với bổng lộc, còn ngôi nhà đẻ chữ đẻ nghĩa này, khái niệm bổng lộc hoàn toàn trở thành số không khi người ta, muốn để có được những khoảng tĩnh lặng vô vàn quý giá ngồi trước bàn của mình, họ sẵn sàng đánh đổi, nhường nhau lên chức này chức nọ, kể cả cái chức Tổng biên tập sang giá nhất.

Bởi cái chức phận, cái quyền uy vô biên, hữu nghĩa nhất là ngày ngày được mặc sức điều thành thế giới nhân vật mênh mông có cả vị tướng, ngài chính khách, đấng văn nhân lẫn những kẻ đầu đường xó chợ nhỏ bé nhất của mình. Và ngược lại cái vị Tổng biên hay phó Tổng biên tập kia nếu được hay bị tổ chức phân công thì thường là nhăn nhó, vò đầu bứt tai vì quỹ thời gian đang bị ngoạm dần, chả còn đầu óc đâu mà mộng mơ, suy nghĩ mà khai bút về những điều sâu xa, tươi thắm nhất của cõi nhân tình thế thái đang ủ dấm trong lòng họ.

Đơn giản thôi: Cái đó mới còn lại, còn những cái kia, kể cả những chức phận cao tận đỉnh trời rồi cũng còn ai nhớ? Và, cũng là đương nhiên, nếu có một ai đó nảy sinh lòng ham hố không bình thường thì không chóng thì trầy, cái luồng khí thanh sạch trong ngôi nhà thiêng ấy sẽ thổi bay vào đường biên của sự bẽ bàng, tủi hổ.

Chiều buồn cuối năm. Kiếm một chiếc ghế đá vườn hoa, châm điếu thuốc nhìn về ngôi nhà thân yêu đã sống đã yêu đã viết hết mình trên một phần tư thế kỷ dặc dài gió bụi ấy mà bất giác mỉm cười. Cuộc đời đến lạ!

Sự trồi sụt thăng trầm là lẽ dĩ nhiên của mọi hành vi hành động, sự thăng hoa hay trầm xuống của tài văn, của vóc dáng một lực lượng cầm bút âu đó cũng là điều dễ hiểu. Ngoảnh nhìn lại để biết mình đang ở đâu, mình đang đứng trên một cái nền nào chứ không hốt hoảng, âu lo hay tự ti tự kỷ, đó là phong độ của các nhà văn mặc áo lính hôm nay.

Đó cũng là phong độ của hai cây đại già bao giờ cũng khiêm nhường, lặng lẽ, bền vững làm chứng nhân lịch sử cho những con người trong ngôi nhà lịch sử này. Khiêm nhường và lặng lẽ như chính những buồn vui, đi về, còn mất của họ, một kiếp văn nhân luôn biết gắn bó với dân tộc cần lao, can tràng mà họ đang không ngừng thao thức phản ảnh

Chu Lai

Chưa có bình luận
1
Mục: 1 - 0/0

Họ tên:
Email:
Nội dung:
Ảnh xác nhận:
 
  
 
Nguồn tin
Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội

Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội


Add: Số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội
Tell: (84-4) 8454370
Email: info@vannghequandoi.vn
Website: http://vannghequandoi.vn
Các bài cùng nguồn