Những điều chưa biết về Minh Chính - tác giả bài thơ “Đi học”
Ngày đăng:  

“Hôm qua em tới trường/ Mẹ dắt tay từng bước/ Hôm nay mẹ lên nương/ Một mình em tới lớp...” – những câu thơ trong bài thơ “Đi học” của nhà thơ Minh Chính (tên thật là Hoàng Minh Chính) từ hàng chục năm nay trở nên rất đỗi quen thuộc với nhiều thế hệ học sinh. Sau này, bài thơ được nhạc sĩ Bùi Đình Thảo phổ nhạc. Mới đây, anh Hoàng Quốc Vinh, em trai của liệt sĩ Hoàng Minh Chính cho chúng tôi xem những di vật của nhà thơ ở chiến trường gửi về. Mỗi di vật, một câu chuyện riêng tư của nhà thơ Minh Chính...


Kì I: Gặp người con gái trong thơ Minh Chính

Một lần gặp gỡ

Anh Hoàng Quốc Vinh cho tôi xem cuốn nhật ký của nhà thơ Minh Chính gửi về từ chiến trường. Cuốn nhật ký một nửa anh dùng ghi các bài học chính trị, nửa còn lại là thư anh viết gửi chị Cù Thị Kim Hợp. Minh Chính viết để trải lòng, còn thư thì không gửi.

"... 22 giờ, ngày 31-7-1966: Hợp ơi! Đêm nay là cái đêm nào! Cái đêm thứ nhất cậu xa Việt Bắc, thương Hợp quá, nói với nhau cái gì được nhỉ. Tại sao chúng mình lại gặp nhau, để có nhiều vấn vương thế cậu. Đừng trách mình Hợp nhé! Cậu đã hiểu mình chưa đấy. Hôm ấy chia tay vội vàng, bâng khuâng quá! Gặp Hợp rồi đêm về nhớ, ngày thì mong, sao mà khó tả vậy. Những đêm sáng trăng như đêm nay, đẹp lắm Hợp ạ! Tớ ôm cây đàn buồn nhớ Hợp. Đường vào Khu Bốn xa lắm Hợp nhỉ! Xa như nỗi nhớ của mình ấy Hợp ạ!...”.

Qua anh Hoàng Quốc Vinh tôi được biết, chị Kim Hợp năm xưa, nay là bà Kim Hợp hiện vẫn ở Việt Trì (Phú Thọ). Thế là tôi ngược Quốc lộ 2 lên Việt Trì tìm gặp bà Kim Hợp để hiểu thêm về Minh Chính và những tình cảm mà nhà thơ Minh Chính đã dành cho bà qua những trang thơ. Nguyên là Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ nên việc chúng tôi tìm đến gia đình bà không mấy khó khăn. Đặc biệt, nhà bà khá khang trang trong khuôn viên rộng 2.000m2.

“Nàng thơ Kim Hợp” năm xưa trong thơ Minh Chính nay đã ở tuổi 68. Thời gian làm khuôn mặt bà xuất hiện nhiều vết nhăn hằn sâu dấu ấn của tuổi tác. Bà bảo chúng tôi cứ xưng “chị - em” cho tự nhiên, nhưng chúng tôi không dám, vẫn giữ thói quen gọi bà xưng cháu. Ở bà vẫn toát lên cái vẻ rắn rỏi, can trường như những năm tháng ở rừng mà Minh Chính từng viết trong nhật ký.

 
 Cù Thị Kim Hợp, người con gái trong thơ Hoàng Minh Chính. Ảnh: Duy Thành


Trong câu chuyện, bà Kim Hợp cho biết: Ngày đi học, bà không phải là “hoa khôi” của trường nhưng có một khuôn mặt ưa nhìn cùng với năng khiếu văn nghệ, giỏi bóng chuyền và múa rối nên được nhiều bạn trai “để ý”. Có người tìm cách thể hiện sự “để ý” đó nhưng với Hoàng Minh Chính thì bà không nhận thấy có biểu hiện gì khác lạ. Thế nên, bà rất bất ngờ khi biết được những tình cảm e ấp đầu đời mà nhà thơ dành cho mình qua những trang thơ, nhật ký.

Đọc nhật ký Hoàng Minh Chính, có thể thấy rõ tình cảm cứ nảy nở và lớn dần theo thời gian xa cách giữa nhà thơ với người bạn gái. Mặc dù không biết trong thời gian đó, Kim Hợp có phát đi tín hiệu “hồi âm tình cảm” nào đến nhà thơ không, nhưng với Minh Chính thì hình bóng ấy đã in đậm vào trái tim anh, vào từng vần thơ và trang nhật ký.

Minh Chính học hết lớp 9 thì đất nước bước vào thời khắc lịch sử mới. Cuối năm 1963, anh làm đơn tình nguyện nhập ngũ khi mới 17 tuổi. Còn Kim Hợp tiếp tục học xong cấp 3 ở Trường Cấp 3 Hùng Vương rồi học tiếp lên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Cũng như Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc hay nhiều chiến sĩ đang chiến đấu trên chiến trường miền Nam lúc đó, việc làm ưa thích của Hoàng Minh Chính là “trò chuyện” với người mình yêu qua trang nhật ký. Những trang nhật ký của nhà thơ ghi rõ những hành động dũng cảm, kiên cường của anh khi chiến đấu nhưng lại khá bi lụy khi trải lòng với những vần thơ và nhớ về người bạn gái nơi quê nhà. Duyên số như định trước đối với Minh Chính khi anh tình cờ gặp lại Kim Hợp ngay giữa chiến khu Việt Bắc. Chuyện là: Vào cuối năm 1964, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được lệnh sơ tán lên xã Vinh Quang, Đại Từ, Bắc Thái (nay là Thái Nguyên) để vừa học tập vừa giúp nhân dân sản xuất. Vì thế mà Kim Hợp có mặt ở đây. Còn nhà thơ Minh Chính khi đó đã trở thành sĩ quan quân đội, từ Khu Bốn ra làm cán bộ huấn luyện chiến sĩ mới để bổ sung lực lượng cho chiến trường miền Nam. Hôm ấy, đang ở doanh trại, Minh Chính bỗng nghe được giọng hát trong trẻo, quen quen vang lên từ trong lán trại của các sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Thế rồi, anh băng qua bóng đêm đi về hướng ánh đèn vang lên giọng hát ấy. Nhận ra người quen, mừng vui khôn tả, nhưng nhà thơ chẳng biết nói gì, chỉ hỏi thăm đôi lời về sức khỏe, công việc, rồi lại lẳng lặng ra về và trải lòng cùng những trang nhật ký.

Khi ấy, Kim Hợp vẫn chưa biết được tình cảm của Minh Chính dành cho mình. Kim Hợp chỉ thấy rất vui khi tình cờ gặp lại người bạn cũ học cùng trường. Một hôm, trước lúc lên đường cùng đơn vị vào Nam chiến đấu, Minh Chính nhờ người gửi những bài thơ và trang nhật ký mà anh viết riêng về Kim Hợp tặng người bạn gái cùng quê. Nhận được món quà đặc biệt này, Kim Hợp mới biết tình cảm mà Minh Chính dành cho mình hết sức sâu nặng...

Và sau này, khi đọc bài thơ “Đi học”, nhiều người thân của Minh Chính nói rằng, hình ảnh “Cô giáo em tre trẻ/ Dạy em hát rất hay”... chính là bóng hình của cô giáo trẻ Kim Hợp vốn chiếm vị trí rất sâu đậm trong trái tim nhà thơ.

Để mãi mãi xa nhau…

Bà Kim Hợp cho chúng tôi xem một tập thơ và ít lá thư đã úa màu thời gian. Đây là toàn bộ những kỷ vật của Minh Chính mà bà còn giữ lại, để nhớ về một thời tuổi trẻ. Nhiều bản thảo và một số lá thư do Minh Chính viết trên những cỡ giấy khác nhau, tất cả đều đã ố vàng, có nhiều gạch xóa, nhưng nhìn chung vẫn dễ đọc. Có một bản nhạc do Minh Chính sáng tác mang tựa đề “Nhớ” với lời đề “Tặng hai năm xa H”. Một bài thơ mang tên “Được tin – Tặng H khi trở về an toàn”, anh viết: “Được tin em trở về/ Anh mừng đêm không ngủ/ Có gì hơn thương nhớ/ Có gì bằng tình em… "

Nhưng trong đó, tôi lưu ý đến một truyện ngắn nước ngoài có tựa đề “Boa-ten” không rõ của tác giả nào mà Minh Chính đã cắt ra từ một cuốn sách, gửi tặng Kim Hợp. Đó là một câu chuyện buồn, đại ý nói về một đôi trai gái yêu nhau nhưng duyên của họ không thành. Minh Chính dùng bút mực gạch chân nhiều đoạn trong truyện. Dường như, anh muốn mượn lời nhân vật trong truyện để nói lên nỗi niềm của lòng mình.

Tâm trạng đó của nhà thơ, có lẽ bắt đầu từ đầu tháng 9-1969, khi Minh Chính ra Bắc lần thứ hai, huấn luyện bộ đội chuẩn bị cho chuyến đi “B dài”. Bao hồi hộp, háo hức được gặp lại Kim Hợp bỗng tan thành mây khói khi anh biết tin người bạn gái ấy đã đi lấy chồng. Anh không tìm gặp mà viết lá thư gửi Kim Hợp. Lá thư có đoạn: “Hôm nay 3-9-1969, sau ba năm chiến đấu được trở về quê hương... Hai nỗi đau ập đến. Được tin Bác Hồ mất, Hợp thì đi lấy chồng. Trong lòng tôi, ai biết vết thương nào đau xót hơn? Mình lại đi B dài, lần thứ hai. Viết mấy chữ gửi thăm Hợp và các cháu...”.

Là người chứng kiến câu chuyện ấy, anh Vinh cho biết: “Khi đó, anh tôi mới biết là lâu nay mình đã ôm ấp một mối tình đơn phương để ra trận. Rồi anh ấy làm bài thơ gửi lại tôi và dặn sau này có điều kiện hãy đưa cho chị Hợp. Bài thơ viết: “Biết em có tổ ấm/ Lòng anh như xót đau/ Anh cười trong đau khổ/ Tìm em! Em ở đâu?”...

Nói về sự kiện này, ông Lê Quốc Chính, ở số 4, ngõ 383, đường Lê Thánh Tông, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, người cùng đơn vị với nhà thơ Hoàng Minh Chính cho biết: “Từ năm 1969, tôi không thấy anh Chính nhắc tới Kim Hợp nữa, hỏi thì anh chỉ bảo: Người ta đi lấy chồng rồi!”.

 

Kỳ II: Nhà thơ trong ký ức của mẹ

- “Giữa đêm khuya thanh vắng, trong cái lạnh như cắt da, cắt thịt vào cuối năm 1948, tôi đặt Chính và Loan vào hai chiếc thúng ở hai bên đầu gánh, lót ít rơm giữ ấm cho con, mình đeo ít gạo sau lưng, mò mẫm trong đêm ngược sông Lô lên với chồng...” - Đó là một trong những ký ức mà bà Lê Thị Oanh, mẹ liệt sĩ Hoàng Minh Chính chia sẻ với chúng tôi.

Tôi tiếp tục theo chân anh Hoàng Quốc Vinh ngược dòng sông Lô về miền trung du Tiên Phú, Phù Ninh, Phú Thọ để được nghe mẹ Lê Thị Oanh kể về tuổi thơ của nhà thơ Hoàng Minh Chính.

 
 Chân dung nhà thơ, liệt sĩ Hoàng Minh Chính.


Khi chúng tôi lên đến nhà, biết hôm nay gia đình có khách nên mẹ Oanh ra tận cổng đứng đón. Năm nay, mẹ đã 94 tuổi, cho dù lưng đã còng, đôi mắt đã mờ và đôi chân đi lại khó khăn, nhưng tiếng của mẹ vẫn dõng dạc lắm! Vừa gặp chúng tôi, mẹ Oanh bộc bạch: “Lẽ ra tôi cũng đi theo cụ ông rồi, nhưng vì thằng Chính chưa về nên tôi phải sống để chờ nó”.

Hôm ấy, tôi ngồi trò chuyện cả buổi với mẹ Oanh dưới tán cây vải ở vườn. Mẹ bảo: “Đây là 3 cây vải Chính nó trồng trước lúc lên đường nhập ngũ. Hằng năm cây đều cho trái xum xuê, chỉ tiếc nó không còn sống mà hưởng”.

Mẹ Oanh cùng anh Hoàng Quốc Vinh bên gốc vải nhà thơ trồng trước lúc lên đường nhập ngũ.

Nói đoạn mẹ chậm rãi đi vào nhà, lấy ra chiếc cặp nhỏ màu đen. Mẹ dùng khăn cẩn thận lau những lớp bụi bám quanh chiếc hộp và mở ra cho chúng tôi xem: Một cuốn sổ nhật ký, những bản thảo thơ và thư. Mẹ giải thích: "Đây là những di vật của Chính gửi về trước lúc hy sinh". Nói tới đó, tôi thấy mắt mẹ đỏ hoe, rồi những giọt nước mắt còn sót lại cứ tràn xuống những nếp nhăn gồ ghề trên khuôn mặt. Cứ thế, bao nhiêu ký ức về người con ham học, ham thơ, siêng năng, chịu khó ngày nào của mẹ hiện về nguyên vẹn.

Ngày ấy, mẹ không còn nhớ rõ, chỉ biết vào cuối năm 1948, chồng đi theo cách mạng lên chiến khu Việt Bắc, còn mẹ và chị Loan (5 tuổi, con đầu), anh Chính (4 tuổi, thứ hai) ở quê nhà Yên Thành, Ý Yên, Nam Hà (cũ). Khi giặc Pháp kéo đến quê nhà, mẹ nhận được tin chồng: “Em và 2 con lên ngay Vĩnh Phú. Nếu có chết thì cả gia đình cùng chết”. Vậy là vào giữa đêm khuya thanh vắng, trong cái lạnh như cắt da, cắt thịt, mẹ Oanh đặt anh Chính và chị Loan vào hai chiếc thúng ở hai bên đầu gánh, lót ít rơm giữ ấm cho con, mình đeo ít gạo sau lưng, mò mẫm trong đêm ngược sông Lô lên với chồng… Kể từ đó, tuổi thơ của Minh Chính gắn liền với miền trung du này và mảnh đất ấy nghiễm nhiên trở thành quê hương thứ hai của nhà thơ.

Lên Vĩnh Phú, hai năm sau Minh Chính bước vào lớp 1. Vì còn nhỏ nên thời gian đầu, hết chị Loan rồi đến mẹ thay nhau đưa Minh Chính tới lớp. Thế nhưng có những hôm, cả chị và mẹ đều bận lên nương, vậy là một mình Minh Chính lặn lội băng qua rừng cọ, đồi chè đến lớp học. Những hình ảnh ấy đã được anh tái hiện trong bài thơ “Đi học” khi anh mới 15 tuổi: “Hôm qua em tới trường/ Mẹ dắt tay từng bước/ Hôm nay mẹ lên nương/ Một mình em tới lớp…”. Bên dưới bài thơ có ghi: Kỷ niệm thăm Thản. Thản ở đây là Trạm Thản, một vùng đồi cọ có địa thế rất đẹp và gần nhà anh. Thường vào những ngày nghỉ, anh lại từ huyện về và thích một mình lên đồi, lang thang dưới bóng cọ sau khi đã giúp mẹ việc đồng áng.

Đêm lạc mẹ…

Cứ tưởng lên trên Việt Bắc, gia đình mẹ Oanh sẽ được yên ổn. Thế nhưng giặc Pháp đâu có để cho gia đình bé nhỏ của mẹ yên. Không biết bao lần mẹ ôm các con chạy vào rừng trốn giặc. Trong một lần như vậy mẹ đã để lạc Minh Chính. Nhớ lại chuyện xưa, mẹ kể: “Khi giặc Pháp tấn công vào Phù Ninh, mẹ bồng các con chạy trốn cùng dân làng vào rừng. Vì con nhỏ hay khóc, mẹ phải dỗ dành nên một số người nói: Ẩn nấp với cô không khéo chúng tôi chết oan. Vậy là họ đi nơi khác và mẹ không biết Minh Chính cũng đi theo. Tối về nhà, mẹ đi khắp làng trên, xóm dưới để hỏi thăm tin tức của Minh Chính nhưng không ai biết, đến mãi tận khuya nó mới tìm về nhà... ”.

Về nhà mẹ hỏi chuyện, thì ra khi Minh Chính quay về ẩn nấp gần làng để khi giặc Tây bỏ đi sẽ lấy ít lương thực đem vào cho mẹ. Cũng may lần ấy giặc Tây không phát hiện ra anh, nếu không thì... Nhưng cũng chính nhờ sự gan dạ ấy mà Minh Chính đã được tận mắt chứng kiến lũ giặc Tây bắn giết gia súc, đốt phá nhà cửa của dân làng. Điều đó càng làm tăng thêm lòng căm thù giặc sâu sắc trong trái tim người thanh niên trẻ này.

Lên cấp 2, Minh Chính xuống trung tâm huyện theo học. Ngày nghỉ, anh về làm việc ở hợp tác xã để lấy công điểm cho gia đình và giúp mẹ trông nom các em. Nói đến đây, mẹ chia sẻ với tôi: “Nó là đứa chịu khó, chỉ biết làm hết sức mình. Đi làm công lấy điểm, tuy còn nhỏ nhưng gánh lúa đầy như người lớn. Không chỉ thế nó còn được mệnh danh là người cuốc đất giỏi thứ hai của xã. Mẹ nhớ nhất hình ảnh nó đi làm, gánh hai đứa em ra đồng để tiện việc trông nom. Đến khi về, nhìn 4 anh em, hai đứa ngồi hai bên gánh, một đứa đi sau vác cuốc mà mẹ không cầm được nước mắt”.

Có lẽ, chính những tháng năm lam lũ này đã tôi luyện cho anh ý chí, sự can trường nên trong suốt thời gian quần nhau với quân thù ngoài mặt trận sau này, dường như anh không biết mệt mỏi bao giờ!

Trở lại với những vần thơ anh viết từ khi còn nhỏ, những nét chấm phá đầu đời đã cho thấy rõ tài năng về thơ ca của Minh Chính. Một trong những bài thơ còn lại, được viết sớm nhất là bài thơ “Viết thư cho bà” năm 1955, khi anh mới 11 tuổi. Bài thơ thật giản dị nhưng cũng rất cảm động: “Hòa bình vừa mới hôm qua/ Hôm nay viết thư cho bà/ Chữ viết còn run nét bút/ Cháu gửi bà ở phương xa…”. Đến những vần thơ mộc mạc như: “Hôm qua em bị điểm hai/ Tại vì em chẳng thuộc bài đêm qua…”. Tôi chợt nghĩ rằng: Có lẽ không chỉ thừa hưởng những giá trị truyền thống hiếu học của gia đình, mà chính mảnh đất này, thiên nhiên này với màu vàng của lúa, màu xanh của cỏ cây, hòa quyện cùng tình người nơi đây đã vun đắp cho tâm hồn thơ trong sáng của Minh Chính.

Tài năng thơ phú của Minh Chính được nhiều người biết đến khi anh xuống học ở Trường cấp 3 Hùng Vương, Việt Trì, Vĩnh Phú (1961-1963). Chính tại nơi đây, qua những "Ngày thơ” do nhà trường tổ chức, thầy cô, bạn bè đã biết thêm nhiều về Minh Chính qua một số bài thơ như: Lạc mẹ, Tập làm thơ… Và cũng chính nơi đây, Minh Chính đã thương thầm, trộm nhớ cô nữ sinh Cù Thị Kim Hợp. Chính Kim Hợp sau này đã trở thành "nàng thơ" trong hầu hết tác phẩm của anh mà chúng tôi đã kể ở phần trước.

Cuối năm 1963, khi đang chuẩn bị lên lớp 10, Hoàng Minh Chính viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Trước lúc lên đường, anh về thăm mẹ và các em, đem theo 3 cây vải người bạn tặng để trồng, hy vọng sau này trở về sẽ được hái quả.

Kể về ngày anh lên đường nhập ngũ, mẹ Oanh bồi hồi: “Sáng sớm hôm ấy, khi các anh trong xã kiểm tra công tác chuẩn bị trước lúc lên đường thì nó nói với các anh cán bộ xã: Trưa mới đi mà! Để tôi cuốc ít ruộng còn lại cho mẹ rồi lên đường vẫn chưa muộn. Các anh liền can ngăn: Trưa lên đường rồi, ở nhà nghỉ ngơi, thăm hỏi bà con xóm làng! Sự nghiệp cách mạng còn dài, đuổi quân thù rồi về xây dựng quê hương vẫn chưa muộn. Cái thằng! Chuyện đi đánh giặc mà nó cứ xem như đi làm đồng ấy!”.

Kỳ III: Dang dở những ước mơ

Nhà thơ Trần Hòa Bình khi viết về Hoàng Minh Chính có đoạn: “Nếu bom đạn quân thù không cướp mất anh lúc đang giữa tuổi thanh xuân, thì người thanh niên tài hoa và đa cảm ấy chỉ có thể chọn một trong hai nghề, hoặc trở thành nhà thơ, hoặc trở thành một nhà giáo dạy văn!”.

Tôi và anh Vinh quyết định đi tìm đồng đội của nhà thơ để hiểu thêm về quãng thời gian trước khi Hoàng Minh Chính hy sinh. Sau hơn một tháng đi dò hỏi, liên hệ, đầu tháng 8-2011, anh Vinh báo tin với tôi: “Đã tìm thấy một số đồng đội của anh Chính. Đặc biệt, có anh Lê Quốc Chính, người cùng đại đội và rất thân với anh tôi. Hiện anh Chính đang ở Thanh Hóa”. Thế là chúng tôi khăn gói vào Thanh Hóa tìm gặp anh Lê Quốc Chính. Trò chuyện với chúng tôi, anh Lê Quốc Chính cho biết: “Khi nhập ngũ, Hoàng Minh Chính thuộc quân số của Sư đoàn 312 vào chiến đấu ở Mặt trận Bắc Quảng Trị. Tháng 10-1968, Minh Chính được điều về làm Đại đội trưởng Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 138 (Trung đoàn độc lập của Bộ, chiến đấu ở B5). Tôi là Trung đội trưởng Trung đội 1, thuộc đại đội của anh. Anh Chính là người sống tình cảm lại hay làm thơ, mà tôi cũng thích thơ nên hai anh em rất quý nhau”.

  "Anh nhớ nhất bài thơ nào của Minh Chính?"- tôi hỏi. Dường như câu hỏi của tôi vô tình chạm vào vùng ký ức một thời khói lửa với biết bao kỷ niệm mà bấy lâu nay anh cất giữ. Bởi thế, giọng anh Quốc Chính bỗng trở nên nghẽn lại. Ngừng một lúc, anh Quốc Chính tâm sự với tôi: “Thơ của Minh Chính thì nhiều lắm! Nhưng trong đó, tôi thích nhất bài “Cô gái lái đò trên sông Cam Lộ” mà lần đầu gặp gỡ anh đã đọc cho tôi nghe. Đây là kỷ niệm về những lần đơn vị chúng tôi được các cô gái Quảng Trị lái đò đưa qua sông đánh giặc. Bài thơ ấy có đoạn: Lên bờ anh ra trận/Em đăm đăm nhìn theo/Biết bao nhiêu mơ ước/Gửi gắm trong tay chèo. Rồi những hôm chờ nhận nhiệm vụ mới, anh Chính thường hay xuống các trung đội trò chuyện, đàn hát cho chúng tôi nghe. Tuy nhiên, có điều mà chúng tôi vẫn thường thấy là anh Chính hay ngồi một mình trong đêm dưới trăng. Những lúc ấy, chúng tôi không dám lại bắt chuyện. Nhiều lần, anh em chúng tôi bày tỏ mơ ước của mình khi đất nước hòa bình, tôi quay sang hỏi anh Minh Chính: "Sau này hòa bình anh sẽ làm gì? Anh nói: Hòa bình mình muốn trở thành thầy giáo để vừa dạy học, vừa được làm thơ. Thế nhưng ước nguyện ấy của anh đã không thành”.

 
 Bản thảo bài thơ "Đi học"


Theo tư liệu mà anh Lê Quốc Chính cung cấp: Tháng 12-1969, tình hình chiến sự diễn biến ngày càng có lợi cho ta, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 138 được đổi phiên hiệu thành Đoàn 2169 nhận lệnh hành quân vào Nam Bộ. Tháng 5-1970 địch càn lớn dọc biên giới Đông Bắc Cam-pu-chia, Đoàn 2169 lại chuyển thành Tiểu đoàn 227 trực thuộc Bộ tư lệnh Miền đánh trận chống càn ngày 10-5. Trong trận này, địch dùng máy bay đổ bộ một tiểu đoàn lính Mỹ, kết hợp với một tiểu đoàn ngụy có biệt kích dẫn đường càn vào kho B, sông Măng, cách biên giới Việt Nam 8km. Lúc này Minh Chính chỉ huy đại đội phục kích chốt giữ kho. Trận chiến đấu diễn ra giằng co suốt từ 9 giờ đến 17 giờ. Cuối cùng, do tương quan lực lượng chênh lệch nên đơn vị được lệnh rút quân, củng cố lực lượng. Ở trận này ta hy sinh 9 đồng chí và bị thương 17 đồng chí. Minh Chính may mắn không việc gì và tiếp tục chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.

Thế nhưng trong chiến tranh, giữa cái sống và cái chết ranh giới hết sức mong manh. Mới hôm qua, mâm cơm còn đủ cả tiểu đội mà ngày mai đã "vắng" đi một số đồng đội. Anh Lê Quốc Chính nhớ lại: “Ngày trước, anh Minh Chính thường hay nói với chúng tôi: Mỗi chúng ta, ai trải qua 10 trận đánh là xem như mình đã hoàn thành sứ mệnh với đất nước rồi. Vậy mà anh đã không đi hết được con đường ấy!”

Kể về trường hợp hy sinh của nhà thơ, anh Lê Quốc Chính cho biết: “Đầu tháng 11-1970, Tiểu đoàn 227 bổ sung vào Sư đoàn 5. Khi ấy anh Minh Chính ở Đại đội 13, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 3, Sư đoàn 5 và vẫn làm đại đội trưởng. Đầu năm 1971, địch lại mở trận càn lớn lên vùng Đông Bắc Cam-pu-chia. Đơn vị chúng tôi nằm trong đội hình của sư đoàn có nhiệm vụ: Bao vây cô lập chiến đoàn 9, sư đoàn 5 ngụy tại thị trấn Xnun, tỉnh Kra-ti-e, Cam-pu-chia. Để chuẩn bị cho trận đánh, đêm 7-3-1971 anh Chính dẫn 11 đồng chí đi trinh sát địch. Sau khi đã chọn được vị trí mở cửa; nắm chắc toàn bộ cách bố trí các lô cốt và các hỏa lực của địch thì tổ rút ra hành quân về đơn vị. Thế nhưng, khi rút quân đến khu vực bìa rừng cao su, bất ngờ địch phản pháo trúng vào giữa đội hình, hai đồng chí hy sinh tại chỗ. Anh Chính bị thương nặng vào mặt. Mặc dù đã được cấp cứu kịp thời, nhưng do vết thương quá nặng, anh Chính đã hy sinh tại Trạm quân y Tiểu đoàn. Anh cùng 3 đồng đội nữa được đơn vị tổ chức an táng tại quả đồi có nhiều cây Bằng Lăng và tre Lồ ô cách thị trấn Xnun khoảng 8km về phía Tây Bắc”.

Mong sớm đón anh về đất mẹ

 Dù biết nơi anh Chính hy sinh thế nhưng sau chiến tranh với những bộn bề của cuộc sống nên anh Lê Quốc Chính chưa tìm đến gia đình mẹ Oanh để báo tin cho mẹ biết.

Chính vì không biết rõ con mình hy sinh nơi đâu nên 40 năm qua, mẹ Oanh vẫn mòn mỏi đợi tin anh Chính trở về bằng việc hằng ngày mẹ ra ngồi dưới gốc cây vải mà anh Chính trồng trước lúc lên đường, dõi đôi mắt nhìn xa xăm về phương Nam. Rồi có những đêm mẹ nằm mơ thấy anh Chính đang nằm cô đơn một mình trong cánh rừng sâu thẳm nào đó. Thương con, mẹ lại giục anh Vinh, anh Thịnh nhanh đưa anh về với mẹ. Thế nhưng biết tìm anh ở đâu giữa mênh mông núi rừng? Anh Hoàng Quốc Vinh chia sẻ với tôi: “Nhiều lúc tôi và cậu em út Hoàng Vĩnh Thịnh tưởng chừng như bất lực, bởi thông tin về anh Chính quá ít. Thế nhưng đang lúc bế tắc ấy, gia đình tôi nhận được thông tin từ anh Lê Quốc Chính. Đọc xong thư của anh Lê Quốc Chính, anh em chúng tôi cứ ôm nhau mà khóc. Vậy là sau 40 năm, giờ đây gia đình tôi có thể đưa anh về với đất mẹ”.

Trao đổi về việc đưa hài cốt nhà thơ về nước, anh Vinh nói: “Anh em tôi đã thống nhất với anh Lê Quốc Chính cuối năm nay sẽ hoàn tất hồ sơ để đưa anh tôi về nước”. Tất cả đang chờ mong một ngày được đón nhà thơ, liệt sĩ Hoàng Minh Chính về với đất mẹ Việt Nam!


DUY THÀNH


Nguồn: QDND


Chưa có bình luận
1
Mục: 1 - 0/0

Họ tên:
Email:
Nội dung:
Ảnh xác nhận:
 
  
 
Nguồn tin
Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội

Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội


Add: Số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội
Tell: (84-4) 8454370
Email: info@vannghequandoi.vn
Website: http://vannghequandoi.vn
Các bài cùng nguồn