Không phải đến bây giờ, sau một chặng đường dài "đi tìm cái tôi đã mất", nhà thơ Anh Ngọc mới được trở về chính mình, mà ngay từ những vần thơ đầu tiên năm 14, 15 tuổi, ông viết cho riêng mình, đã thể hiện một bản năng sống như vậy. Đến nỗi dù sau này, cuộc đời có đưa đẩy nhà thơ Anh Ngọc vào những mảng khác nhau của đời sống nhất thời, thì cuối cùng, "bản năng gốc" vẫn kéo ông trở về cái muôn thuở như nó đã đến rất hồn nhiên từ buổi ban đầu ấy.
Gần 10 năm nay, nhà thơ Anh Ngọc ẩn mình trên căn gác nhỏ ở phố Lý Nam Đế (Hà Nội). Thơ ông thấm nỗi niềm của thế cuộc, của một tâm hồn mẫn cảm luôn ám ảnh về bản chất của cõi sống và cái chết...
- Thưa nhà thơ Anh Ngọc, nhắc đến ông, nhiều người vẫn nhớ đến bài thơ "Cây xấu hổ", được giải thưởng của Báo Văn nghệ năm 1972. Đó có phải là sáng tác đầu tay của ông không ạ?
- Nếu nói về những bài thơ đầu tiên đúng nghĩa của tôi thì phải nói tới những dòng đến nay vẫn nằm yên trong cuốn nhật ký giấu dưới đáy va ly. Tôi biết ghi nhật ký từ năm 14, 15 tuổi, và ở đấy ghi chép luôn xen với thơ, và dĩ nhiên thơ ấy cũng ngây thơ và ngộ nghĩnh như chủ của nó. Nhưng kỳ lạ là nó đều buồn, buồn và cô đơn vô hạn. Buồn như sắp chết đến nơi ấy. Lúc đấy mình sợ nhất là tuổi 19, 20 - vì nó già quá. Thà chết còn hơn già. Sau này đọc cụ Hoài Thanh nhận xét về nỗi buồn của Huy Cận mình sướng quá, vì đúng quá, và vì mình cũng thế. Có lẽ đó là lý do vì sao sau này tôi mê nhạc Trịnh. Không nói chuyện tài năng hay tiếng tăm… gì nhé, chỉ đơn giản về tâm thế, tôi thấy mình và Trịnh giống nhau còn hơn hai giọt nước, ngay cả các chặng đường đi trong cuộc đời cũng vừa khác, lại vừa rất giống. Một trong những điều tôi cảm ơn ngày 30/4/1975 là vì đã cho tôi gặp và có quyền sống với nhạc Trịnh. Chính Trịnh đã giúp tôi mở lại cánh cửa trong hồn mình, cái mà mình có từ tuổi thơ ấy, mà bao lâu do hoàn cảnh mình đã phải đóng lại, phải giấu kín. Bao năm nay, tôi chỉ làm một việc là móc nối lại cái phần trước của mình với phần sau này sao cho liền mạch mà thôi. Đó là tiến trình trong hồn vía và tư tưởng của tôi, cũng như của nhiều người thuộc thế hệ của tôi, tôi tin thế.
- Vì sao ngày đó ông làm thơ và chỉ để trong nhật ký cho riêng mình? ông đã bắt đầu ý thức về sự sáng tạo?
- Tôi còn nhớ, năm 14 tuổi, đang học cấp 2, vẫn còn sống ở làng quê Nghệ An, trong chính ngôi nhà của mình, mà những dòng tôi viết về quê hương nghe bơ vơ rất lạ. Có lẽ do lúc bấy giờ bố mẹ tôi đã ra Hà Nội, tôi lang thang một mình ở quê, đợi hết năm học thì cũng sẽ rời quê nốt. Mà là rời vĩnh viễn. Mình chia tay quê hương đúng lúc chia tay với tuổi thơ luôn. Bạn hãy nghe những dòng mùi mẫn này nhé: Trời mưa lạnh, quê ai đây hả mẹ/ Nhưng mẹ đâu, sao vắng vẻ thế này/ Phải rồi đến lúc chia tay/ Một mình tỉnh mộng ngồi đây với đời… Qua làn nước mắt/ Ta khóc tuổi thơ/ Hồn ai vương vất dại khờ/ Quê hương chung thủy vẫn chờ đón ta… Và tôi đã biết nghĩ về cái chết từ dạo đó. Còn nhớ, giữa một trang nhật ký, tôi vẽ nấm mộ to đùng và đề tên mình lên bia mộ… Hì hì… Chuyện dài dòng lắm và chắc có bạn sẽ buồn cười và không tin. Nhưng tuổi ấy chưa biết nói dối đâu. Vả lại ghi nhật ký cho riêng mình, ở chỗ tuyệt mật như thế thì nói dối hay đóng kịch với ai… Có lẽ đấy là do bản năng và ý thức sống của mình phát triển quá sớm.
- Những câu thơ thật đẹp và buồn và không ai nghĩ được viết ra bởi một cậu bé 14 tuổi. ông làm thơ như một bản năng?
- Mình giống như mũi tên đặt trên cái cung. Dòng họ tôi có nhiều người làm văn chương (có 7 người là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam), nhưng toàn làm phê bình. Chỉ có bà Thúy Bắc (em ruột nhà phê bình Hoài Thanh) là làm thơ. Thực ra, trong tôi cũng có ít nhiều máu làm phê bình, nhưng có vẻ máu sáng tác vẫn mạnh hơn. Điều này phản ánh rất rõ trong sáng tác của tôi, kế cả ưu điểm lẫn nhược điểm. Đó là sự mâu thuẫn hay sự phân thân ám ảnh suốt đời, vừa có ích vừa có hại và mệt mỏi vô cùng. Chuyện này quá dài, phải nói dịp khác nhé. Nếu phải gom lại trong một vài câu thì thế này: Toàn bộ tâm thế và cách diễn đạt nó ra bằng mọi thứ ngôn ngữ của chúng ta chỉ phản ánh từ hai góc độ (cũng là cấp độ), đó là chúng ta ứng xử theo cách giữa con người với nhau hay là theo cách ta đứng trước ông Trời. Thế thôi.
- Nhiều nhà thơ, đi từ cái ta chung của dân tộc đến cái tôi riêng của mình. ông cũng không nằm ngoài dòng chảy đó, đó là ý thức của cả một thời đại. Nhưng đọc những câu thơ đầu tiên của nhà thơ Anh Ngọc, rõ ràng, đó là tâm hồn ông nguyên bản và tinh khôi nhất. Hành trình đi tìm mình của ông chính là sự trở về, với cái ban đầu chăng?
- Tôi đã đi từ những câu thơ trong nhật ký, chỉ viết cho mình thôi và vô cùng chân thực, diễn đạt cái ngỡ ngàng đầu tiên của đứa trẻ bắt đầu có ý thức về đời sống. Mặc dù ngay cả khi vẫn chơi những trò như lũ trẻ con ở quê, nhưng khi ngồi trước trang nhật ký, tôi bỗng già đi kỳ lạ, và luôn cảm thấy một nỗi buồn có thật. Nhưng rồi lớn lên, lối sống và cách nghĩ của cộng đồng ngày ấy, rồi tiếp đó là chiến tranh, chúng tôi cả một thế hệ bị cuốn vào cuộc chiến. Cái nửa thứ hai này quá mạnh, nó đã lần át phần lớn cách cảm, cách nghĩ của chính tôi như một sự thật, nhưng cũng như một sự thật là vẫn tồn tại đâu đó trong tôi cái thế giới bất biến và vĩnh cửu của con người bình thường. Nhỏ nhoi, tội nghiệp, nhưng nó vẫn tồn tại.
- Tôi có cảm nhận, với nhà thơ Anh Ngọc, những câu thơ đầu tiên đã hình thành một thế giới quan riêng của ông, định hình một tư tưởng, mà dù sau này, thời cuộc, chiến tranh có kéo ông đi, nhưng cuối cùng ông vẫn trở về với cái nguyên thủy đó?
- Con người tôi tách thành hai nửa. Những câu thơ đầu tiên của tôi, có lẽ là phần bên trong của tôi một cách vô thức. Nên hồi đó, tôi viết khá nhiều mà không được đăng báo. Có lần, còn là sinh viên, tôi đưa một bài thơ viết về làng quan họ nhờ nhà thơ Xuân Diệu xem hộ, ông khoanh tròn rất nhiều chỗ (tức là ông khen), nhưng bài vẫn chưa đăng được, vì hồi ấy mình chưa có tên. Hồi đó, được in báo khó khăn lắm, có người in được bài báo là cả làng ăn mừng đấy. Bài đầu tiên được đăng báo là năm tôi 22 tuổi, năm 1964, thế là quá muộn rồi. Bài thơ này in trên Báo Cứu quốc, nhan đề là “Hai anh em pháo thủ”. Bài thơ nhằm minh họa cho cái ý lúc ấy nhiệm vụ của miền Bắc là vừa sản xuất vừa chiến đấu, nên hai anh em nhà này một người thì lên "giàn giáo", còn một người thì lên "mâm pháo", tứ của thơ là dựa trên cái vần "áo" rất có lý có tình này! Giờ nhìn lại thì buồn cười, nhưng dạo ấy cứ in được là sướng. Nhuận bút thì đúng bằng mười bát phở. To lắm đấy. Quy ra phở mới thấy hết giá trị của thơ thời ấy.
- Bài thơ "Cây xấu hổ", tác phẩm ghi dấu ấn của ông trong làng văn bằng giải thưởng trên Báo Văn nghệ năm 1972, hồi đó giải thưởng uy tín lắm?
- Trước đó, tôi đã có những bài thơ in trên Báo Văn nghệ do chị Xuân Quỳnh chọn, như bài "Hương sắc hoa xoan" và "Bên lở bên bồi". Tôi vẫn giữ cái thư của Xuân Quỳnh, nét chữ "như rắc thuốc lào lên giấy" của Xuân Quỳnh báo tin "thơ anh chắc không được giải đâu, nhưng in thì được". Chắc Xuân Quỳnh sau này chẳng nhớ đến tôi khi tôi mặc quân phục đến nhận giải ở Báo Văn nghệ. Anh Xuân Diệu thì càng không thể nhớ cái thằng ngày xưa nhờ anh xem hộ thơ từ thuở còn sinh viên và cái anh lính tác giả bài "Cây xấu hổ" mà ông thích chỉ là một. Hôm ấy ông đến ngồi cạnh tôi và nói: "Tớ rất thích thơ cậu, tớ đề nghị giải nhất cho cậu nhưng không được. Cậu không giải nhất chỉ vì không giải nhất mà thôi". Sau đó ông viết một bài dài đăng mấy kỳ trên Báo Văn nghệ, mấy lần nhắc đến tôi, thú thật là tôi sướng âm sướng ỉ cho đến tận bây giờ và mấy lần mạn phép anh linh của ông dùng những lời ấy làm lời giới thiệu cho sách của mình. Tham một tý, nhưng cũng vì quả thật trước sau như một tôi vô cùng yêu Xuân Diệu, cả thơ cũng như người. Năm 1976, ông đi dự Đại hội thơ thế giới ở Bungari về, ông bảo: Cả tham luận của tớ, tớ chỉ nhắc đến hai bài thơ là "Cây xấu hổ" và "Khoảng trời hố bom" (của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ).
- Vâng, và có lẽ những bài thơ ấy đã làm nên một nhà thơ Anh Ngọc của ngày hôm nay. ông cũng viết khá nhiều trường ca, một thể loài dài hơi và đầy thách thức với người cầm bút. Điều gì thôi thúc ông cầm bút? Bản trường ca đầu tiên ông viết năm nào ạ?
- Chính những đề tài lớn của thời cuộc đã buộc những người cầm bút phải chọn thể tài cho phù hợp. "Sóng Côn Đảo" là bài thơ dài hoặc là bản trường ca đầu tiên. Ngay sau khi giải phóng Sài Gòn, tôi đã kịp thời ra thăm Côn Đảo, những ấn tượng quá mạnh của Côn Đảo không thể viết ngắn. Mặc dù trường ca được Báo Văn nghệ trao giải A (cùng các anh Hữu Thỉnh và Văn Lê), nhưng thực lòng không thể nói là tôi đã bằng lòng với tác phẩm. Nó mắc cả hai lỗi là công thức và sơ lược. Tôi không chối bỏ những đứa con tinh thần của mình, nhưng nhìn lại, tôi thấy mình viết dạo ấy chưa hết mình và cả chưa đúng mình. Nhìn lại thì dễ quá, nhưng nếu nghiêm khắc thì phải thấy như vậy. Giờ này đọc lại, tôi chỉ thích một số đoạn, một số câu thôi. So với "Người tù Pappillon" chẳng hạn, đề tài về Côn Đảo của mình còn phong phú và ghê gớm hơn, còn có thể viết hay hơn thế.
- Ông cũng trăn trở rất nhiều với thể loại này, vậy bản trường ca mà ông tâm đắc hơn cả?
- Trường ca "Sông Mê Công bốn mặt". Đó là một đề tài rất hay, chạm đến những bi kịch của loài người, cái mà ta gọi là những nhầm lẫn của lịch sử. Với trường ca này, một mặt, tôi muốn tái hiện bức tranh có tính cập nhật của đời sống, mặt khác, tôi luôn tìm cách kéo tính cập nhật đến tính vĩnh cửu, kéo những vấn đề, kể cả những cái chết có tính chính trị, thành những vấn đề, những câu chuyện của muôn thuở. Có vẻ như đề tài này hợp với tạng của tôi.
- Ông quan niệm: yêu thật, đau thật, viết thật, còn lại là một ít tài năng, cộng với rất nhiều tâm huyết và lao động. Còn sự cách tân thì sao?
- Tôi luôn ủng hộ những cách tân do nhu cầu đích thực, kết quả của những nội lực mạnh mẽ. Nhưng tôi tôn trọng mọi người và tôi cũng không tự tin lắm đâu, vì biết mình đã già rồi, thời nào anh hùng nấy mà… Còn với tôi, thơ luôn là cách để ta diễn đạt những tình cảm và suy tư chân thành nhất một cách ấn tượng và truyền cảm nhất. Tôi là người tin vào quy luật, kể cả những nơi quy luật tinh vi đến như không có quy luật. Maxim Gorky nói: Từ vú mẹ đến vú người yêu là một chặng đường dài… Tôi muốn viết thêm: Nhưng chưa dài bằng từ vú người yêu đến bầu vú đá… Cũng chẳng hạn như tôi đây, lúc nào trông cũng toe toét như bắt được của, nhưng từ đáy lòng, tôi là người buồn thường trực, vì buồn quá nên hay cười. Có một cái logic như thế đấy.
- Xin cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn thú vị này
KHÁNH LINH
Nguồn: cand.com.vn