Đây không phải lần đầu nàng Tô Thị chờ chồng hoá đá trở
thành cảm hứng cho người sáng tác thơ. Hòn Vọng phu - nàng Tô Thị đã từng xuất
hiện trong ca dao, trong trường ca Mặt
đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, trong bài Về thôi nàng vọng phu của Vương Trọng… và tôi cũng đã từng viết Nói với nàng Tô Thị.
Bạn Thái Hoà gửi về BBT bài Thăm nàng Tô Thị ,văn bản như
sau:
Thăm nàng Tô Thị
Bao năm bồng con đứng
đợi chồng về
Lời hẹn thề xưa cùng
người hoá đá
Đất nước ngàn năm binh
lửa
Thuỷ chung một tấm
lòng son.
Thương nàng Tô đơn độc
đầu non
Mắt mòn mỏi ngóng về
biên ải
Tráng sĩ ra đi không
trở lại
Ngàn năm qua rồi
Đợi tiếp ngàn năm…
Cùng nàng Tô, em có
dám thi gan?
Chiều quan tái gió
ngàn lau xào xạc
Vách đá dựng
Anh và em như bơi
trong đáy vực
Nhỏ nhoi chìm trong
bóng núi che
Anh từng ra mặt trận
trở về
Và có thể mai này còn
ra trận
Nếu anh không về từ
nơi lửa đạn
Em đừng hoá đá làm
chi!
Đất nước mình quá đủ
sự chia ly
Những hòn Vọng Phu
đứng dọc dài đất nước
Những nàng Vọng Phu
nay nuôi con, đánh giặc
Chẳng ai kịp hoá đá
chờ chồng…
Núi đá uy nghi, núi đá
rêu phong
Núi lớn bởi nỗi buồn
đau chờ đợi
Nỗi - buồn - đá - ngàn
- năm kết thành vỉa khối
Khối tình Vọng Phu gửi
lại thiên thu…
Trước hết xin được chia sẻ với cảm xúc mà bạn Thái Hoà đã
gửi gắm trong bài thơ. Cái tình ấy có thể nói bao nhiêu cũng không cạn. Đất
nước ta từng trải qua nhiều cơn binh lửa, không có sự hy sinh mất mát nào lớn
hơn sự hy sinh mất mát của người phụ nữ. Và, cũng như bạn, đôi khi tôi tự hỏi:
không biết trên thế giới có nơi nào nhiều hòn Vọng Phu như đất nước ta. Trong
thời gian dằng dặc, không gian mênh mông của dải đất nhiều chiến chinh giông
bão này bao nhiêu người đàn bà đã mất chồng, mất con; bao nhiêu chia ly tao
tác; bao nhiêu mong ngóng đợi chờ? Bao nhiêu? Làm sao mà trả lời trọn vẹn được
câu hỏi nhức nhối ấy hở bạn. Đành phải mượn Hòn
Vọng Phu - Nàng Tô Thị để xót thương chia sẻ với người phụ nữ Việt Nam.
Tôi đồng cảm với bạn ở điều này. Tuy vậy, cùng muốn trao đổi với bạn một vài
điểm về nghệ thuật.
Tôi tạm chia bài thơ Thăm
nàng Tô Thị của bạn ra 2 phần. Phần 1, thuộc 2 khổ thơ đầu; bạn tụng ca
lòng chung thuỷ son sắt và xót thương cho thân phận cô đơn của người phụ nữ
Việt Nam
trong ngàn năm binh lửa. Sự chờ đợi dằng dặc vô tận ấy được bạn thể hiện một
cách giản dị nhưng gợi cảm trong 2 câu Ngàn năm qua rồi/ Đợi tiếp ngàn năm.
Phần 2, thuộc 4 khổ còn lại là cảm nghĩ hay cũng có thể gọi là thông điệp của
bạn gửi tới những người phụ nữ hôm qua và hôm nay đừng hoá đá làm chi! dẫu
người thương của mình không trở lại. Lý do để bạn đưa ra thông điệp ấy là Đất
nước mình quá đủ sự chia ly và những người phụ nữ Việt Nam còn phải
nuôi con, đánh giặc/ Chẳng ai kịp hoá đá chờ chồng. Lịch sử và hiện thực dân
tộc đã minh chứng cho điều đó. Có lẽ ta không cần bàn luận thêm.
Như thế là đã rõ bạn muốn gửi gắm điều gì khi làm bài thơ
này. Chỉ tiếc, là mạch suy cảm ấy không thống nhất khi bạn hạ một câu thơ ở đầu
khổ thứ 3: Cùng nàng Tô, em có dám thi gan?. Một câu đùa với em chăng? Có thể,
nhưng đặt trong hoàn cảnh này không hợp. Bạn đang đụng chạm đến một vấn đề lớn,
sự hy sinh vô cùng tận của người phụ nữ Việt Nam. Hay là một câu hỏi thật, kiểu
như trắc nghiệm lòng chung thuỷ của em thì nó rất mâu thuẫn với suy nghĩ của
bạn ở phần sau như tôi đã phân tích ở trên. Đấy là chưa nói tới sự thiếu tinh
tế, có thể xúc phạm tới em yêu dấu của mình. Theo tôi, nên bỏ khổ thơ này cùng
với khổ thơ cuối cùng. Khổ thơ cuối không nâng được bài thơ lên vì những gì sâu
thẳm về nàng Tô Thị bạn đã nói ở phần đầu rồi (nỗi buồn đau chờ đợi ngàn năm
nối tiếp ngàn năm…). Vậy, bài Thăm nàng Tô Thị của bạn chỉ còn lại 4 khổ: 1- 2
- 4 - 5. Ít chữ hơn những ý tứ, tình cảm vẫn trọn vẹn và quan trong hơn là mạch
suy cảm của bạn được thống nhất từ đầu đến cuối. Và, em của bạn chắc không còn
phải cau mày khi đọc câu thơ: Cùng nàng Tô, em có dám thi gan?…
NGƯỜI BIÊN TẬP