Vui như cái Tết Bính Thìn
Ngày đăng: 23/01/2012 2:00:00 SA
Ấy là tôi muốn nói đến cái Tết mang tên Rồng năm 1976. Khi ấy, tôi là lính Trường Sơn, vừa tròn hai mươi tuổi. Tốt nghiệp cấp ba vào bộ đội chưa được hai năm, cấp bậc hình như chỉ mới binh nhất hay hạ sỹ gì đó. Thực ra, niềm vui của tôi trong cái Tết Bính Thìn ấy không liên quan tới chuyện cấp bậc chức vụ nhưng cũng bắt chước các vai chèo khi ra sân khấu phải xưng danh nên tôi cũng tự giới thiệu mình sơ qua như thế. Chuyện của tôi cũng chẳng quan hệ chi tới rồng rắn cả chỉ là một kỷ niệm vui vui của đời lính xảy ra vào đúng năm Rồng.
Chao ơi, mới đó mà đã ba mươi sáu năm rồi. Tính năm là 36, tính tháng là 432, tính ngày là 13.140. Cũng khơ khớ đấy, thời gian cứ mặc nhiên trôi đi và vô tình để lại dấu vết trên khuôn mặt, dáng vóc con người. Mới ngày nào, da căng mắt sáng, long lanh lung linh chất trai trẻ nay mặt đã ngang dọc nếp nhăn, đầu lém đém hai thứ tóc, nhìn chậm, đi chậm, nói chậm. Nói tóm lại, cái chi chi cũng chậm chạp rề rà.
Có làm thơ cũng chỉ là để an ủi động viên cái độ xế chiều lưng lửng của mình, kiểu như : Hạnh phúc là được trông cây/ heo may lá rụng xuống tay đồi mồi/ tóc xanh đứng ngắm chân trời/ hoa râm ngồi nhặt hoa rơi bên đường. Biết, biết chứ, ai mà chẳng đến lúc hoa râm, thế nhưng vẫn nhớ, vẫn tiếc cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Hồn nhiên. Trong trẻo. Đam mê. Dẫu là lính tráng vẫn hội tụ đủ đầy khí chất của tuổi trẻ như quãng xuân phơi phới khởi đầu năm vậy.
Đấy, vẫn là cái tật của người hơi hơi cao tuổi. Rề rề rà rà mãi vẫn chưa vào chuyện chính. Thôi, thì tôi bắt đầu đây. Năm 1976 với tôi là một năm vui. Mùa xuân Đại thắng vừa đi qua một năm. Ánh sáng hòa bình tràn ngập muôn nơi, Nam Bắc thống nhất, non sông thu về một mối, không khí khải hoàn vẫn còn rạo rực trong lòng.
Ai đã trải qua chiến tranh, đã từng sống trong bom đạn, mỗi ngày mỗi đêm phải đối mặt với mất mát đau thương thì càng trân trọng quý giá sự bình yên của Đất nước. Tôi nhớ, Phạm Tiến Duật đã từng viết trong một bài thơ: Dù ăn muối suốt đời/ Còn hơn là có giặc. Hạnh phúc lớn nhất của một Đất nước có lẽ là hòa bình. Và, theo chiều ngược lại thì chiến tranh chính là nỗi bất hạnh lớn nhất của một dân tộc. Nhìn ra thế giới hôm nay tôi càng thấm thía điều đó.
Tôi có niềm vui của một người dân sống trong không khí hòa bình sau những năm tuổi thơ sống trong bom đạn. Tôi có niềm vui đoàn tụ của hai miền Bắc Nam sau bao nhiêu năm chia cắt. Tôi có niềm vui của người lính đứng trong đội ngũ của đoàn quân chiến thắng. Niềm vui chung thật lớn lao và trong năm 1976 tôi lại được cộng thêm niềm vui khởi nguyên lâng lâng trong trẻo của một người lính cầm bút.
Tôi tập tọe làm thơ từ khi đang còn học cấp ba. Những bài thơ tràn cảm xúc nhưng thật ngô nghê non nớt về nghệ thuật nếu bây giờ đọc lại. Kiểu như là : Mưa rơi dây muống vườn cà/ Cây tre ướt lá con gà ướt lông...Vì mê thơ nên tôi coi những Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc... – những người lính làm thơ- là thần tượng.
Vì mê thơ nên tôi tìm đọc Văn nghệ quân đội từ thời lớp 8. Bộ đội đi B ghé lại làng, thấy các anh lính trẻ măng đọc Văn nghệ quân đội, tôi sán vô làm quen để mượn xem. Thơ. Truyện ngắn. Tôi đọc hết. Những con chữ đen kịt in trên những trang giấy màu nâu đã khai mở trong tôi tình yêu văn chương đẹp đẽ. Tôi ao ước trở thành một người lính cầm bút như các anh.
Và, có lẽ từ tình yêu văn chương ban đầu đó mà tôi như kẻ điếc không sợ súng cầm bút làm thơ. Tôi đã trở thành người lính từ mùa hạ năm 1974 nhưng để trở thành nhà thơ được đóng dấu của Hội Nhà văn Việt Nam thì phải chờ đến 26 năm sau (đầu năm 2000). Tuy nhiên, để tìm ra một cái mốc ghi nhận chặng đời sáng tác của mình thì tôi không thể không chọn cái Tết Bính Thìn năm 1976 ấy.
Những ngày giáp Tết, sự mong đợi nhất của tôi là được sớm đọc Văn nghệ Quân đội số Xuân. Lính trẻ, Tết ở doanh trại, xa dân, chủ yếu là tán phét với nhau cho đỡ nhớ nhà, nhớ người yêu nếu trái tim chàng nào đã thấp thoáng một bóng hồng nào đó.
Năm ấy, tôi chưa được cô gái nào yêu nên Tết đến thú nhất vẫn là đọc Văn nghệ quân đội. May cho tôi, còn mươi ngày nữa mới hết năm cũ mà Văn nghệ quân đội số Xuân Bính Thìn đã thơm phức trên tay chiến sỹ rồi. Tôi ngắm nghía trang bìa rồi mở ra từng trang. Số Tết nên giấy trắng hơn, nhiều minh họa đẹp và tên các bài thơ in màu đỏ.
Và, tôi đã sửng sốt, ngạc nhiên khi thấy tên mình xuất hiện trên một bài thơ đã gửi khá lâu cho Văn nghệ quân đội bên cạnh những cái tên lẫy lừng như Phạm Ngọc Cảnh, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng... Trời ơi, bài Trên đường hành quân tôi viết đầu năm 1975. Được chứng kiến những đoàn quân hừng hực khí thế vào chiến trường trên đường Trường Sơn huyền thoại tôi đã viết bài thơ này và liều mạng gửi cho Tạp chí mình rất yêu mến.
Xin nói rõ thêm là trước đó tôi đã gửi nhiều bài nhưng mới được một lần nhận được thư của biên tập viên đại ý, cảm ơn bạn và mong tiếp tục cộng tác. Gửi mãi, gửi mãi mà không được in, nản lòng lắm, định thôi luôn. Nào ngờ, bây giờ đây, rỡ ràng trước mắt tôi bài thơ thương mến của mình : Tiếng chim điểm nhịp hành quân/ Cờ lau mở trận trắng ngần gió bay/ Hương hoa rừng khéo nở đầy/ Đọng trên sắc áo dạn dày nắng sương/ Phải chăng qua những nẻo đường/ Ở đâu đất cũng yêu thương tận lòng/ Ông cha vạn thuở anh hùng/ Hóa thành sông núi nhịp cùng ta đi.
Tám câu thôi, cả lục cả bát mộc mạc đơn sơ thật thà hóa thành niềm vui mênh mang của tôi. Tôi mừng, mừng quá, không nói nên lời. Những giọt nước mắt vui chảy xuống thấm ướt bài thơ đầu tiên in Văn nghệ quân đội của mình.
Chỉ có vậy thôi mà. Một kỷ niệm đẹp trong đời lính, trong đời làm thơ của tôi. Ba mươi sáu năm rồi mà tôi vẫn còn rưng rưng khi hồi tưởng lại ngày xa ấy. Đúng là, vui như cái Tết Bính Thìn!
NGUYỄN HỮU QUÝ
|