Ngày ấy, khoảng cuối những năm 50, Đại đoàn Đồng bằng tới đóng quân tại xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ). Với tinh thần hoàn toàn tự nguyện, mỗi gia đình trong xã nhận bốn đến năm đồng chí bộ đội về nhà. Tuy nhiên, để tránh phiền tới các gia chủ, từ Ban chỉ huy Đại đoàn đến các chiến sĩ đều chỉ ở nhờ, còn ăn thì… tự túc.
Đậu gốc Hà Nội chính tông. Anh đi bộ đội từ năm 16 tuổi. Do vóc dáng nhỏ bé, lại ít tuổi nên Ban chỉ huy Đại đoàn giao cho Đậu nhiệm vụ liên lạc. Đến xã Hồng Dương, Đậu được phân công ở nhà ông bà Tám, tại thôn Ba Dư. Ông bà Tám có đúng 8 người con, toàn gái. Chị cả Chỉ tuổi đã vành vạnh, nhưng vì lo cho đàn em lít nhít nên vẫn chưa đi lấy chồng. Cái nguyên nhân khiến cô gái út có tên là Tám thật đơn giản. Bắt đầu từ cô thứ 6, ông Tám đã chán quay chán quắt cái trò cứ phải gieo vần đặt tên cho lũ “vịt giời”. Ông thèm có một cậu ấm để nối dõi! Nhưng trời già đôi khi thật quá quắt. Thứ người cầu thì chẳng được. Thứ không cầu thì cứ ra sòn sòn. Bực mình, ông Tám đặt tên cho cô thứ 6 cũng là Sáu. Cô thứ 7 là Bảy. Và cô thứ 8, tất nhiên là Tám. Đối với những người đã có con cái, dân vùng này không gọi tên cúng cơm nữa, mà gọi theo tên con. Nhưng lại là con út. Thế nên ông bà được gọi là ông bà Tám.
Cô thứ 3 trong gia đình ông bà Tám tên là Luyến. Từ nhỏ, so với các chị em, và cả những đứa trẻ cùng lứa, Luyến đã nổi trội về sự nhanh nhẹn và… nhan sắc. Luyến có nước da trắng bông, hồng hồng như màu bì của lũ lợn con mới sinh. Lúc bắt đầu biết nhận thức mọi thứ xung quanh, có lần nằm trong lòng bà nội, Luyến đã “thổ lộ” ước mơ của mình. Cô nũng nịu: “Bà ơi, đám cưới cháu sẽ có ô tô về đón dâu. Có trà này, thuốc lá này và cả bánh kẹo để cho lũ bạn cháu ăn thoả thích”.
Năm Đại đoàn Đồng bằng đến đóng quân, Luyến vừa tròn 7 tuổi. Khác với những đứa trẻ tong teo trong làng, chẳng hiểu sao, ăn uống kham khổ là thế, mà Luyến vẫn tròn quay, hai má phinh phính làm ai cũng muốn bẹo. Các chú bộ đội quý Luyến như cục vàng, tranh nhau công kênh Luyến lên cổ rồi đi diễu khắp làng. Đậu lại có cách đối xử khác đối với Luyến. Số là, mỗi đợt đơn vị được tiếp phẩm, bữa ăn của bộ đội rất khá khẩm. Có thịt hộp, cá hộp, thịt lợn, thậm chí có khi có cả giò chả. Những lúc ấy, đến bữa, Đậu lại len lén lấy một cái bát không trong chiếc chạn tre của nhà ông bà Tám, đem tới nơi ăn tập trung. Lúc trở về, chiếc bát luôn luôn đầy lấp lu cơm trắng. Luyến lại chạy ra tận cổng để đón anh Đậu.
Có một bí mật giữa hai người. Nhìn qua, ai cũng tưởng nhà ông bà Tám không đủ ăn, Đậu đem thêm cơm về cho lũ nhỏ. Thực ra, không phải vậy. Mặc dù đông con, nhưng sinh hoạt hàng ngày ở nhà ông bà Tám luôn khá đàng hoàng nếu đi so với người làng. Trước kia, gia đình ông thuộc dạng khá giả. Ông Tám có 5 mẫu ruộng, một đôi trâu, thuê tới 3 người làm. Thời cải cách ruộng đất, người ta cũng đem ông ra đấu tố. Thế nhưng, gia đình ông Tám đã thoát được tội địa chủ bởi hai lý do. Thứ nhất, hôm đấu tố, anh Cang, bà Chít, cô Loan, những người làm thuê cho nhà ông, lúc lên “phát biểu” đều nói rằng: “Ông Tám như người anh ruột thịt của chúng tôi. Ông ấy ăn gì, chúng tôi ăn đó. Nhà ông ấy ở thế nào, chúng tôi ở thế đó. Ông Tám mà không thuê chúng tôi thì cả nhà chúng tôi chắc đã chết đói”. Còn nguyên nhân kia, mãi đến cuối buổi đấu tố, lúc đồng chí Tình, bí thư huyện uỷ, chân thấp chân cao ào đến, mới được phát hiện. Hoá ra ông Tám là cán bộ cách mạng hoạt động bí mật ngay tại địa phương. Mỗi lần nhận nhiệm vụ hoặc báo cáo tình hình, ông chỉ trực tiếp làm việc với đồng chí Tình. Vì thế, ngay những đảng viên cùng làng, cùng hoạt động bí mật, cũng chẳng biết.
Sau năm 1954, ông Tám tình nguyện hiến hết ruộng, rồi cả trâu cho hợp tác xã. Nhà ông chẳng còn gì đáng giá. Cuộc sống dần dần cũng giống như những gia đình xung quanh. Tuy nhiên, bà Tám vẫn còn một chút vốn liếng tích trữ được. Thiếu thốn quá, bà đành đem ra ăn dần. Bởi thế, cái gia đình 10 người kia chưa bao giờ phải đói. Chỉ có điều, thi thoảng lắm mới có chút thịt, cá.
Được chừng dăm lần thì cái bí mật kia bị ông Tám phát hiện. Nguyên do, một buổi trưa, Luyến đang lúi húi ăn trong bếp, chợt ông Tám xuất hiện. Ông đi lấy ấm nước sôi để pha trà. Thấy Luyến lóng ngóng giấu cái bát ăn cơm sau lưng, ông Tám nghi tợn. Ông nghiêm giọng:
- Sao không ăn còn giấu bát làm gì? Đưa đây cha xem nào!
Xưa nay, cả làng, cả xã luôn biết ông Tám dạy con cực kỳ nghiêm khắc. Cả 8 cô con gái nhà ông gọi dạ bảo vâng, cấm dám cãi lại cha mẹ một câu. Phương châm dạy con của ông Tám là: có thể cha mẹ mắng oan, sai, nhưng con cái vẫn không được quyền cãi. Đến lúc cha mẹ hết nóng giận, hãy tìm lời mà giải thích.
Luyến đành ngoan ngoãn đưa bát cơm ra, nước mắt đã kịp chảy hai dòng dài trên má. Thoáng nhìn, ông Tám thấy ngay một bát toàn thịt gà rang lẫn với chả lụa. Đoán ngay “người tiếp phẩm” cho con gái mình chính là Đậu, nhưng ông không nói gì mà lẳng lặng xách ấm nước đi lên nhà. Thì ra, cái bát cơm đầy ụ hàng ngày Đậu đem về cho Luyến chỉ là biện pháp “nghi binh”. Trong ấy, chỉ có một lớp cơm mỏng được nguỵ trang ở trên, còn dưới, toàn thức ăn. Đó là khẩu phần của Đậu, nhưng anh đã không ăn để dành cho bé Luyến.
Mãi đến chiều hôm ấy, khi tất cả bộ đội đã ra bãi tập, ông Tám mới bảo chị Chỉ gọi Luyến lên. Vừa bước chân qua ngưỡng cửa, thấy gương mặt lành lạnh của cha, “kinh nghiệm” đã cho Luyến biết có chuyện chẳng lành. Giọng nhẹ nhàng, nhưng cương quyết như chính uỷ trước đoàn quân, ông Tám hỏi:
- Bát thức ăn trưa nay của con có phải do anh Đậu mang về không?
Luyến lúng búng trong họng:
- Dạ… vâng…!!!
- Bây giờ cha nói cho con mấy điều nhé. Nếu tự con thấy con sai thì…. Biết chưa?
- Dạ…
- Trưa nay, cha không nói với con ngay. Giời đánh còn tránh miếng ăn. Bây giờ, cha nói để con tự nghĩ nhé. Thứ nhất, số thức ăn ấy là để bồi dưỡng cho các anh bộ đội chuẩn bị đi B. Phải ăn ngon, bổ, thì các anh ấy mới có sức chiến đấu, giải phóng miền Nam. Con ăn của các anh như thế là đúng hay sai? Thứ hai, con còn có tới 5 đứa em, vậy mà, có miếng ngon lại dấm dúi ăn một mình, sai hay đúng? Việc thứ ba làm cho cha buồn nhất, đó là con đã giấu giếm cha. Con ạ, làm người, dù nghèo dù khó, cũng phải sống cho đàng hoàng, không bao giờ được để miếng ăn trở thành miếng nhục….
Ông Tám chưa dứt lời, nước mắt Luyến đã rỏ tong tong xuống nền đất nện. Chẳng nói chẳng rằng, em lẳng lặng nằm sấp lên chiếc sập kê giữa nhà.
Ông Tám đứng dậy, rút trên mái ngói ra một chiếc roi tăm hương:
- Ba việc cha nói, con đã biết nghe, cha mừng. Mặc dù cha rất thương con, nhưng để con nhớ, cha sẽ đánh con đủ 3 roi.
Ba tiếng rít của chiếc roi tăm hương vừa dứt, cũng là lúc bà Tám chạy vụt vào nhà. Thấy con bị đánh, ruột bà xót như xát muối. Bà cự nự:
- Sao ông đánh nó?
- Nó hư, tôi phải đánh. Đánh để lần sau nó không bao giờ làm việc sai nữa. Bà có thương con, thì cũng phải nghiêm với chúng nó. Con gái con đứa mà vô ý vô tứ, sau này, thiên hạ nó chửi vào mặt cho.
Biết tính chồng, bà Tám không dám nói thêm lời nào.
Sau vụ bí mật bị phát hiện chừng nửa tháng, Đại đoàn 320 bắt đầu di chuyển vào Nam. Chuyến hành quân gấp gáp đến nỗi Đậu chỉ kịp chào vội ông bà Tám.
 |
Minh họa: Nguyễn Đăng Phú
|
*
* *
Năm 1970, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ đang vào giai đoạn ác liệt, bỗng một hôm, gia đình ông bà Tám lại được đón Đậu. Khác xa với hơn mười năm trước, Đậu bây giờ trông rắn như cái sừng trâu. Trên vai anh còn lấp loáng quân hàm Thượng uý đỏ chói. Sau màn chào hỏi ông bà Tám, vừa dỡ cái ba lô khỏi vai, Đậu đã hỏi:
- Em Luyến bây giờ chắc lớn lắm rồi phải không hai bác?
Bà Tám nhanh nhảu trả lời:
- Nó tròn hai mươi rồi còn gì nữa. Cái anh này, chẳng nhớ gì hết!
- Luyến đi đâu rồi hả bác?
- Nó đang ở trên trạm xá xã.
Đậu giật thót mình:
- Sao… Luyến bị sao???
Bà Tám móm mém cười:
- Nó có sao đâu. Nó làm y tá nên tất nhiên phải ở trạm xá chứ sao.
Đậu thở phào:
- Thế mà bác làm cháu giật cả mình.
Giữa lúc hai bác cháu lời qua lời lại, ông Tám nheo nheo mắt ngắm Đậu. Ông thoáng nghĩ: “Thằng này… ừ… cũng được đấy chứ. Nhưng sao nó lại về đây giữa lúc chiến tranh còn ác liệt thế này. Phải kiểm tra đã!”
Ông Tám è hèm một tiếng, rồi lên giọng hỏi:
- Anh Đậu ra Bắc từ bao giờ? Sao lại được ra?
Biết ngay là ông Tám sẽ thắc mắc chuyện này, Đậu trả lời:
- Từ ngày đi khỏi nhà mình, cháu liên tục chiến đấu trong chiến trường B3. Đây là lần đầu tiên cháu được về thăm nhà nên được nghỉ khá lâu. Thu xếp xong công việc ở Hà Nội, cháu liền về đây thăm hai bác. Vài bữa nữa, cháu sẽ trở lại chiến trường.
Vừa nghe, ông Tám vừa gật gù: “Thế chứ, làm gì có chuyện thằng này đảo ngũ”. Ông thân mật bảo:
- Ừ, thế thì anh ở đây chơi ít lâu. Vừa kể cho tôi nghe về chuyện chiến đấu, vừa tranh thủ đi thăm làng xóm.
- Dạ, vâng ạ!
- Anh cứ bỏ đồ ở đó, ra giếng mà tắm đi cho đỡ bụi bặm. Tôi sẽ bảo con Tám lên trạm xá gọi con chị nó về nấu cơm.
Nghe nhắc tới Luyến, Đậu chợt có chút bâng khuâng: “Không hiểu, cô nhóc xinh xắn ngày xưa giờ thế nào nhỉ? Cô ấy đã có mối manh gì chưa?”
Những gầu nước giếng mát lạnh làm tan biến đi ba chục cây số đường xóc như nhảy ngựa. Đậu vẫn miên man nhớ lại câu nói của cô bé Luyến 7 tuổi: “Từ giờ, anh đừng mang thịt về cho em nữa. Em không ăn đâu. Anh phải bồi dưỡng để có sức đi giết giặc Mỹ nhé!”
Luyến về, nếu cái Tám không léo nhéo gọi tên chị thì chắc Đậu cũng không dám nhận ra cô bé của ngày xưa. Luyến giờ đã là một thiếu nữ thực sự. Đẹp là khác! Nước da trắng hồng của ngày bé vẫn y nguyên. Đôi má bầu bĩnh tuy có gầy đi chút ít nhưng lại càng hợp với khuôn mặt trái xoan, với đôi mắt to, đen láy, sâu hút hồn hút vía.
Luyến cũng hơi sững lại, nhưng cô nhận ra Đậu ngay:
- A! Anh Đậu, anh mới về hả?
Tuy vẫn cùng là tiếng “A!” nhưng tiếng “A!” của Luyến bây giờ không còn trong trẻo như những lần đón Đậu ở đầu ngõ trước kia. Nó đã pha chút ngượng ngùng của người thiếu nữ.
Đón thiếu nữ bằng một nụ cười:
- Ừ! Anh về thăm hai bác và các em. Luyến lớn quá rồi nhỉ!
- Cái anh này, ai thèm xin thức ăn của anh nữa.
Đậu phì cười. Anh không ngờ, chuyện ngày xưa lại in dấu đậm như thế trong tâm trí non nớt của một cô bé mới 7 tuổi đầu. Anh đã trải khắp các vùng đất từ Bắc vào đến chiến trường miền Nam. Anh đã gặp vô số chuyện gây nên những cơn xúc cảm mạnh mẽ. Thế nhưng, những thứ ấy nhạt dần dần. Có lẽ, chúng sẽ chỉ được nhớ khi người ta có đủ một thời gian thực sự tĩnh lặng để mà ngồi ôn lại. Vậy mà, cái chuyện nhỏ nhoi kia, đã làm một người nhớ đến mức thành phản xạ.
4 ngày ở nhà ông bà Tám, Đậu rất ít có thời gian nói chuyện với Luyến. Dường như, cô có vẻ gì không được tự nhiên lắm khi tiếp xúc với anh. Những lúc ấy, ông Tám chỉ cười cười. Hơn ai hết, ông rất biết lòng những đứa con của mình. Đứa nào nghĩ gì, định làm gì, chỉ thoáng qua là ông “bắt nọn” hết.
Bữa cơm chiều hôm ấy, Luyến làm khá nhiều thức ăn. Đó là bữa gia đình ông bà Tám chia tay Đậu. Sáng sớm mai, anh sẽ vào thẳng chiến trường. Mọi người đều có vẻ buồn. Chỉ trừ ông Tám. Chị Chỉ dặn đi dặn lại:
- Vào trong kia, chú nhớ giữ gìn sức khoẻ. Dịp ra sau, chú phải trở lại thăm gia đình nhé. Mọi người không bao giờ quên chú đâu.
Ông Tám gạt phắt:
- Lại chuyện sướt mướt của đàn bà con gái. Anh Đậu đi, chiến thắng anh sẽ về. Anh còn phải trở lại gia đình này để tôi tính với anh một chuyện.
Đậu băn khoăn, mọi chuyện từ xưa tới nay ở cái gia đình này, đối với anh, đã bao giờ không rõ ràng rành mạch đâu. Sao ông Tám lại có vẻ úp úp, mở mở. Anh nhìn thẳng vào mắt ông Tám, dọ dẫm.
Ông Tám chuyển giọng nghiêm trọng, tuyên bố:
- Tôi sẽ gả con Luyến cho anh!
Đậu giật thót mình. Không ngờ cái ông già này lại tinh thế. Từ phút gặp lại đầu tiên, hình ảnh Luyến cứ liên tục vương vất trong tâm trí Đậu. Chuyện tình cảm thầm kín ấy, anh đã thổ lộ với ai bao giờ đâu. Vậy mà…
Đậu ngẩng lên nhìn Luyến. Mắt cô long lanh, lùng bùng. Bắt gặp ánh nhìn ngọt ngào, xen lẫn sự lẫn dò hỏi của Đậu, toàn thân Luyến gai lên. Đó là cái gai của một cơn cảm xúc chợt ào đến. Phút chốc, Luyến đặt bát cơm xuống, bưng mặt chạy ra ngoài. Đậu thảng thốt. Ông bà Tám nhìn nhau cười ý nhị.
Tối đó, thu hết can đảm, Đậu mới dám ngỏ lời mời Luyến ra bờ giếng làng để… nói lời chia tay. Luyến không nói gì, chỉ gật nhẹ.
Trăng đầu tháng lủng lẳng như chiếc móc câu đầu cước. Giếng làng thi thoảng vẫn còn người ùm oàm gánh nước. Luyến co mình vì lạnh. Đã hơn nửa tiếng đồng hồ trôi qua mà Đậu vẫn đờ đẫn như người mất hồn. Bao nhiêu câu định nói, cả một nỗi lòng định bày tỏ, mà anh chẳng biết bắt đầu từ đâu. Đứng trước một đại đội cả trăm quân, anh luôn dõng dạc ra lệnh không vấp một từ. Bị bao vây tứ phía, anh vẫn tỉnh queo, chỉ huy đơn vị vừa xé được vây, vừa diệt được cả đống địch. Vậy mà, trước có một người con gái, cổ họng anh lại như bị nắm cơm chẹn ngang.
Không còn kiên nhẫn được nữa, Luyến đứng dậy, xin phép ra về. Luống cuống, Đậu nói bằng hơi thở gấp gáp:
- Luyến ơi! Bố mẹ đồng ý rồi!
*
* *
Chuyện này có thật 100%. Ai không tin, cứ liên hệ với tôi, tôi sẽ chỉ đến gặp họ. Đậu và Luyến bây giờ đã là ông bà nội của hai cháu trai, một cháu gái. Tôi biết và viết lại được câu chuyện này là vì tôi rất thân với họ. Mỗi lúc rảnh rỗi, tôi thường sang chơi và được họ kể lại những câu chuyện của ngày xưa. Thỉnh thoảng, bà Luyến vẫn trách yêu: “Tỏ tình gì mà có mỗi một câu “Bố mẹ đồng ý rồi!”. Đúng là tỏ tình kiểu lính!”
HUY ĐĂNG