Trong văn học trước 1945 có ba nhà văn không chịu xếp mình vào khuôn khổ của sự phân loại thông thường.Họ như đứng riêng thành một trường phái. Văn của họ không ly kỳ hay gay gắt về mặt cốt truyện, không khuyến dụ người đọc vào những cảnh hớ hênh của tình ái hay những cảnh rùng rợn của tưởng tượng. Chữ nghĩa của họ toàn lấy từ kho đồ cổ của các làng quê. Nhưng họ lại đủ tài dựng nên những cái khác thường từ những cái bình thường.Họ làm thơ trong văn xuôi. Đó là Thạch Lam, Hồ Dzếnh và Thanh Tịnh.
Có một người đã một lần dự vào trường phái ấy, là Nguyên Hồng với “Thời thơ ấu”.
Thanh Tịnh là cái tên lấy lộc của nhà chùa, nhưng thơ ông lại ít mùi kinh kệ. Có biết bao nhiêu ý tứ mà không phải khó khăn lắm mới hiểu lòng thi sĩ. Lấy cái cảnh ly tán máu xương xưa để nung nấu cái hận mất nước. Hơn một lần, một người quen viết những câu thơ bịn rịn xa xôi bỗng trở nên quyết liệt, hùng dũng:
Đừng tiếc máu xương lúc ta cần phải phí
Trên binh trường để chống với thù quân
Nước non ngàn không trở lại với ngày xuân
Nếu cứ để binh cường nó xâm lấn mãi
Bài thơ trên có lời chú tặng binh sĩ Trung Hoa, có lẽ để che mắt mạng lưới kiểm duyệt, nhưng đọc lên, ai cũng biết Thanh Tịnh đang muốn tỏ điều gì. Bốn câu ấy ở bài “Đừng tiếc máu”; còn bốn câu sau đây ở bài “Ta khát máu”:
Ta khát máu của bọn người gian trá
Trên trần gian chỉ biết thú đao binh
Khắp bốn phương chan chát tiếng gươm linh
Để mặc đất nhai thây, thành nghiêng ngả
Tôi cứ tưởng chỉ có Phạm Huy Thông với “Tiếng địch Sông Ô” và Chế Lan Viên với “Điêu tàn” là chuyên về cảnh chinh chiến, hóa ra còn Thanh Tịnh. Mà Thanh Tịnh mới thật là người can đảm bởi vì ông muốn tạo ấn tượng về một liên tưởng gần. Có lẽ điều này làm cho ông có một nét gì đó riêng khác so với các nhà thơ mới đương thời.
Nhưng chỉ đến khi viết truyện ngắn thì tài năng của Thanh Tịnh mới phát hết tinh hoa. Sự tao nhã của ông đã thành cảm động, sự sành điệu ở ông đã trở nên thiết tha gần gũi. Cuộc sống của một vùng quê ven đô, trong cái văn minh của phương Tây đã ập tới nhưng vẫn chỉ là thứ váng nổi bên trên những nền tảng của gốc rễ của văn hóa bản địa. Và ở đó vẫn tồn tại một nếp sống, một luật lệ, một tình cảm riêng bất chấp tiếng còi tàu gắt gỏng vọng đến từ một ga xép gần đó. Cái gọi là tính sự kiện trong truyện của Thanh Tịnh không được tác giả gia cố đến mức điển hình, bởi vì công phu của ông lại nhằm vào một phương diện khác: đó là gợi mở không gian văn hóa Việt và thế giới nội tâm của những người dân quê mà ông nặng lòng thương cảm. Chính điều này giải thích vì sao Thanh Tịnh là một trong những người đầu tiên của Thơ mới đi với Cách mạng và kháng chiến. Trong truyện ngắn “Ông Dân Nam ơi” có mặt rất sớm ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến, hình ảnh anh Nẫm, một vệ quốc quân người dân tộc, qua từng trang từng trang hiện lên mỗi lúc càng thêm sống động, chân chất, mộc mạc nguyên khôi với một sức khỏe tinh thần vạm vỡ, trong suốt. Bút pháp này đã giúp ông rất có ấn tượng khi tiếp cận đề tài kháng chiến và hiện thực mới của chiến tranh nhân dân. Con người tham dự một cuộc họp kéo dài suốt ba mươi năm vắt qua hai cuộc kháng chiến ấy, lúc tham gia chiến dịch Biên giới, khi vòng về Khu 4 để xây dựng Chi hội Văn hóa Cứu Quốc, tỏ ra rất hăng hái làm những bài tấu kể chuyện, làm ca dao hò vè, đóng kịch cương, và dồn hết tâm huyết cuối đời để hoàn thành tập trường ca về Bác.
Tài năng ấy, tâm huyết ấy, cộng với sự lịch lãm và đức độ của một trong những bậc đầu đàn của văn nghệ kháng chiến đã giúp ông dẫn dắt thành công một cơ quan văn học lớn đạt đến một thời kỳ thịnh vượng nhất, đó là tờ tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thanh Tịnh, chúng ta rút ra được nhiều bài học lớn về nhân cách mẫu mực của một nhà văn, về tư thế chiến sĩ của người cầm bút. Nhiều tác phẩm của Thanh Tịnh đã có cuộc sống riêng, được kiểm nghiệm qua hơn nửa thế kỷ. Và chúng ta tin rằng, cùng với thời gian, tên tuổi, nhân cách và tác phẩm của Thanh Tịnh mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ nhà văn nối tiếp sau ông
HỮU THỈNH