Thơ Đường và văn hóa Việt.
Thơ ca Việt, hơn nữa là văn hóa Việt, đã sớm tiếp nhận thơ Đường và dành cho nó một vị trí trang trọng bậc nhất. Dù sau này, chúng ta còn có thơ Pháp, thơ Nga…, nói chung là các nền thơ ca thế giới, thì vị trí ấy của thơ Đường chắc sẽ vẫn mãi như vậy. Suốt quá trình dài từ thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 20, các cụ nhà ta vẫn dùng thể thơ Đường luật, xem nó như là của mình để làm thơ chữ Hán, chữ Nôm, để ngâm vịnh những bài Đường thi nguyên tác, tuy rằng vẫn giữ “Giọng Hàn Thuyên, hồn Đại Việt”. Cũng vì điều ấy làm cho ta lắm lúc cứ ngỡ như Đường thi chính là di sản tiền nhân để lại mà tiếp nối sáng tạo và thưởng thức văn chương. Ngày nay, dù cho hiếm còn nghe thấy những thanh âm như thời nào tưởng còn chưa xa lắm :
“… Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.”
(Bạn bè ở Lạc Dương ví như có lời thăm hỏi,
Thì thưa hộ rằng tôi vẫn giữ mảnh lòng băng trong bình ngọc)
(Phù Dung lâu tống Tân Tiệm - Vương Xương Linh)
thì cái hồn Đường thi vẫn mãi thấm đượm trong thơ ta như thuở ban đầu cùng những nguồn ảnh hưởng tốt đẹp khác của văn chương nhân loại.
Trong cái kiểu cách văn hóa Việt ta vốn ưa cái vô vi, thanh đạm mà cũng sâu xa, tinh tế lắm, người ta có thể nói đến những câu thơ Đường được ngâm nga rất đỗi tiêu tao sau chén trà sương của một cụ đồ nho bất đắc chí nào đó. Hay cũng có thể câu chuyện về anh chàng kia, nghèo đến kiết xác vẫn không bỏ được cái thói phong lưu thắp nến đọc Đường thi. Mà phải là nến bạch lạp với Đường thi in thạch bản! Lại nữa, cái chuyện đem Đường thi, cổ văn ra đánh bạc – chuyện này chắc chỉ có ở xứ ta - bằng lối Thả thơ, Đánh thơ, những con bạc văn nho đã xuýt xoa, tâng hẩng sao không đánh cái chữ“Mộ” – “Mộ thượng mai khai, xuân hựu lão”( Hoa mai nở trên nấm mồ, xuân càng già giặn). Những chuyện ấy nhà văn Nguyễn Tuân đã nói đến trong những thiên tuyệt bút của ông. Ngay trong thời hiện đại này – có lẽ thế chăng – một người được xem là phong lưu nhân vật, quảng bác kiến văn mà không biết đến Đường thi, thì cũng kể còn như thiếu khuyết một điều gì đó (!). Các cụ ta làm thơ tác phú, ngâm vịnh văn chương, thù tiếp bạn bè, trà dư tửu hậu, cho đến cả cử nghiệp, khoa bảng cũng đều có liên quan đến Đường thi…đó đã là những nét thường kỳ trong đời sống văn hóa Việt.
Thời thế đổi thay, không còn được độc giọng cao ngâm trên văn đàn mãi, đành lui vào những góc khuất nào đó, Đường thi vẫn là những mạch ngầm trong trẻo, tươi nguyên cùng hồn thơ Việt. Có thể không còn thích thú, tôn vinh, song vẫn còn đó sự kính cẩn, nể vì, chẳng hề dám xem thường rẻ rúng! Đường thi, trong thơ ta, trong văn hóa xứ ta là vậy.
Thể luật Đường thi với thơ ta.
Đường thi từ lâu đã thấm đượm trong thơ Việt. Cái đó đã hẳn. Song nhìn suốt quá trình lựa chọn, dung hợp, ta để ý giữa thơ Việt với thơ Đường đến những năm đầu thế kỷ vừa rồi dường như vẫn còn lẫn lộn cái ngôi chủ - khách ? Dù hồn Việt như thế, ngôn ngữ Việt như thế, thì cái bộ y phục Thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, ngũ ngôn…vẫn cứ còn đeo đẳng. Hồn Đường thi có thể dung nạp, song thể thức Đường thi – quốc bảo của người ta, sao có thể vay mượn mãi, dù rằng các cụ ta cũng đã dùng Đường luật để viết lên bao thiên tuyệt tác cho thơ Việt. Trong khi đó thì quốc bảo của ta – thơ Lục bát, hãy còn lẩn núp, dãi dầu những nơi thôn dã. Nếu có dịp nào, thì cũng chỉ dám dè dặt nương nhờ khúc điệu Chinh phụ ngâm, Tỳ bà hành. Mãi sau mới lộ được ra cái vẻ quốc sắc thiên hương trong Truyện Kiều của ông mối thiên tài họ Nguyễn.
Thế nên, hãy để ý kỹ, Đường thi ảnh hưởng chi phối thơ ta đến mức: Một là, sáng tác thơ Việt, tiền nhân vẫn phải dùng thể luật Đường với những nào là niêm luật, phép đối, số chữ, số câu... Hai là, thưởng thức Đường thi, người xứ mình “qua sông” vẫn phải “lụy đò” nguyên thể tiếng Hán với hình thức luật Đường. Chẳng lẽ cứ để mãi thế. Tất phải đến lúc nào đó, cái kỳ đức thơ ta phải tìm cho được y phục của chính nó mới xong.
Thế rồi, với phong trào Thơ Mới, cái tôi cá nhân thơ Việt với tất cả cung bậc xúc cảm của nó đã phun trào khỏi cái khung Đường luật, khoác vào bộ phục sức tân kỳ, cởi mở : Thơ tự do. Tất nhiên có vần điệu, song là vần điệu sinh sắc của thời đại mới. Theo một nghĩa nào đó, thơ Việt đã tự giải phóng khỏi cái ách luật Đường mà người chủ xướng là thủ lĩnh Tản Đà, Hội chủ Tao Đàn Thơ Mới. “ Thời oanh liệt của thất ngôn luật đã đến lúc tàn”- Hoài Thanh đã tuyên bố thế trong Thi nhân Việt Nam.
Đấy là nói về thơ sáng tác, còn việc chuyển Đường thi sang thơ Việt thì sao? Điều thú vị lại cũng là Tản Đà, người mà GS. Trần Thanh Đạm đã đánh giá: “Trong việc khơi dòng để đưa hồn Đường tái sinh vào thơ Việt, thi sĩ Tản Đà là một trong những người có công phu và công lao bậc nhất”(Thơ Đường, NXB Trẻ 1989 – Nguyễn Quảng Tuân, tr. 230). Với 71 bài bằng thể thơ lục bát trong số 84 bản dịch Đường thi, dịch vội trên tàu điện Hà thành, mục đích cũng chỉ để bán cho báo Ngày Nay kiếm kế mưu sinh, con người của núi Tản sông Đà ấy đã mở đường giải phóng thành lũy cuối cùng cho thơ Việt - phép tắc Đường luật cùng nguyên văn Hán ngữ thơ Đường. Từ đây, dù số lượng còn khiêm tốn, dù vẫn chưa thể cởi hết cái áo Thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, thơ dịch Đường thi đã có thể môn đăng hộ đối với người xứ lân bang. Nói cách khác, việc làm ấy của Tản Đà chính là đã phân rõ ngôi chủ - khách giữa thơ Đường và thơ Việt, dịch Đường thi qua những dịch phẩm“ tuyệt xướng” bằng thể thơ thuần Việt: Phong Kiều dạ bạc, Hoàng Hạc lâu, Trường hận ca, Tống khách quy Ngô, Quan san nguyệt… Vẫn còn đó 13 bản dịch thể Đường luật, song ta hãy nên xem đó như cái tình lưu luyến của Tản Đà tiên sinh đối với Đường thi nguyên thể như cách người xưa đối đãi với nhau:
“ Non Kinh biệt đã đau lòng,
Nữa chi thu lại hai dòng Tiêu, Tương.
Nhớ anh xa ngóng dặm trường,
Bên sông dưới bóng trăng suông tựa lầu”
(Tống Hồ Đại, Vương Xương Linh – Tản Đà dịch)
Như thế, cái công lao bậc nhất của Tản Đà không chỉ là khơi dòng đưa hồn Đường tái sinh vào thơ Việt, còn hơn nữa, là người “phá cách, vứt điệu luật” cho thơ Việt dịch Đường thi, với tư cách người dịch thơ Đường bằng quốc văn hay nhất. Còn với thơ Việt sáng tác thì quá rõ: “ Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại” (Xuân Diệu), “ làm sống lại cái hồn thơ Việt Nam đang hấp hối” (Lê Thanh). Đến đây, cũng dễ có một suy tưởng thú vị: Giành lại độc lập, tự chủ quốc gia, thì đó là công nghiệp của các anh hùng, hào kiệt thế sự; còn trong văn học, thế tất cũng phải là anh hùng, hào kiệt mới có thể làm được cái việc giải phóng tinh thần và thể cách quốc văn. Công nghiệp lớn lao của thi sĩ – dịch giả Tản Đà đối với nền thơ ca dân tộc, văn hóa nước nhà tưởng cũng nên được xem trên bình diện như thế.
Từ Phan Huy Vịnh, Nguyễn Khuyến, Tú Xương cuối cùng đến Tản Đà, thơ Việt dịch Đường thi những năm đầu thế kỷ 20 đã ở vào đúng cái vai chủ nhà mà thù tiếp, đối thoại cùng những khách tri âm Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn, Mạnh Hạo Nhiên, Đỗ Mục…Cuộc đối thoại tao nhã này sẽ còn tiếp tục lâu dài, thú vị với hơn 2000 thi nhân đời Đường và 48.000 bài thơ nghe nói hãy còn lưu giữ được.
Nói thì nói vậy, song có lẽ, ta cũng không nên cực đoan quá mà cho rằng phải rũ đi bằng hết “cái ách Đường luật” trong dịch Đường thi. Một điều chắc chắn, các thể cách truyền thống của ta, lục bát và song thất lục bát cũng khó có thể ôm chứa được tất cả thơ Đường. Nhiều trường hợp có khi vẫn phải dùng ngay chính Đường luật để dịch, miễn là Việt hóa được. Vả lại, trong chừng mực nào đó, Đường luật cũng đã hóa thân thành một phần di sản thơ ca dân tộc. Lý do nữa, thơ Đường đã là giá trị văn hóa chung nhân loại, ta có dùng thể cách của nó để tiếp nhận chính nó thì cũng là sự bình thường với vùng giao thoa cần có của quy luật tiếp biến văn hóa. Nói như trên chỉ để càng rõ hơn quá trình vận động của thơ Việt nói chung và thơ Việt dịch Đường thi nói riêng, đã không ngừng phát triển, tiến tới cái điểm mút chuyển giai đoạn có tính lịch sử ở vào những năm đầu thế kỷ 20 đó.
Câu chuyện dịch thơ Đường ở ta trước nay ra sao?
Có 3 thời điểm mà phong trào dịch Đường thi thật rầm rộ: Trước 1945, sau 1954 ở miền Nam, và nay, những năm đầu thế kỷ 21. Thể loại dịch ở cả 3 thời điểm ấy thật muôn hình vạn trạng. Có thể thấy là đủ các kiểu dạng: Lục bát, song thất lục bát có, hát nói có, tự do có, phóng dịch có, dĩ nhiên là Đường luật có. Về ngôn ngữ dịch, ngày nay Đường thi còn được dân Việt dịch ra tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Nga … Về số lượng, là cả một sự khổng lồ không tài nào bao quát nổi. Đặc biệt là trên Internet với hàng trăm, hàng nghìn trang Web, Blog cá nhân trong nước và khắp các quốc gia trên thế giới. Khoan hẵng nói đến chất lượng của những bản dịch có phần ồ ạt đó, chỉ bằng với toàn cảnh ấy, mới biết thanh thế và ảnh hưởng của thơ Đường từ hơn nghìn năm nay lớn đến thế nào. Trước một thế giới biến đổi nhanh chóng, một đời sống ngày càng nhiều những phức tạp mới, người ta càng muốn đến với những giá trị cổ điển như tìm kiếm một điểm tựa tinh thần, phải chăng là thế ?
Tuy nhiên, điểm lại những gì thực sự có tính nghiêm túc, thì cho đến nay, cũng chỉ có thể kể đến vài ba công trình dịch thuật thơ Đường có giá trị: Thơ Đường - 2 tập - NXB Văn hóa 1962 (NXB Văn học tái bản năm 1987), do Nam Trân chủ biên, Viện Văn học chủ trì xuất bản. Đây có thể được xem là công trình dịch thuật thơ Đường quan trọng nhất, có giá trị nhất không chỉ về học thuật, tư liệu mà còn là tập hợp những bản dịch Đường thi tốt nhất từ trước đến đó. Những ai nghiên cứu thơ Đường hoặc tham khảo để dịch thơ Đường có lẽ đều phải lấy cuốn sách đó làm căn bản. Ngoài ra, có thể kể đến cuốn Thơ Đường – Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn - NXB Trẻ 1989 - tập hợp 84 bản dịch Đường thi của riêng Tản Đà in trên báo Ngày Nay, báo Tiểu thuyết thứ bảy và sách Việt Nam Văn chương trích diễm. Tiếp đó là sách riêng của các tác giả Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Khương Hữu Dụng… Cũng cần phải kể đến sách dịch Đường thi của Lê Nguyễn Lưu, Ngô Văn Phú, Nguyễn Hà, Đỗ Trung Lai, Trương Nam Hương…mới xuất bản những năm gần đây.
Dịch thơ Đường ra thơ Việt thực chất là công việc sáng tạo.
Dịch từ Hán sang Việt nói chung và dịch thơ Đường nói riêng, người ta đã bàn đến rất nhiều. Người thì bảo dịch thơ Đường theo nguyên thể chẳng bao giờ hay được. Người thì cho rằng, thể cách nào không quan trọng, vấn đề là cái tài của người dịch đến đâu. Cũng có người lại bảo có thể dùng thể thơ tự do, hoặc phỏng dịch, dịch phóng tác, thế nào cũng được cả, miễn là nghe được và không quá xa nguyên tác. Người thì lại chủ trương cứ phải là lối thơ truyền thống lục bát hoặc song thất lục bát…
Quá nhiều ý kiến có khi trái ngược nhau như thế, phần nào cũng phản ánh tình trạng ở ta vẫn còn chưa định hình rõ quan điểm, lề lối, phép tắc trong dịch thuật, nhất là dịch thơ chữ Hán, dịch Đường thi. Các cụ ngày trước cũng chỉ nói vắn tắt cái tiêu chí “ Tín-đạt-nhã”. Về hình thức, thơ sáng tác đã không còn 8 câu 7 chữ. Nhưng còn thơ dịch Đường ? Sách giáo khoa ngữ văn phần lớn vẫn là những bản dịch theo nguyên thể và cũng chưa phải tất cả đều hay, kể cả ở các công trình dịch thơ Đường như trên vừa kể. Xem ra, Thơ Mới đã hoàn thành cuộc cách mạng triệt để, còn thơ Việt dịch Đường thi thì hình như vẫn còn ngổn ngang lắm nỗi.
Những vấn đề về quan niệm, phương pháp, nguyên tắc dịch thơ Đường, kể cả những vấn đề tỉ như điều kiện kiến văn, cách hiểu văn bản Đường thi cũng như những chi tiết thâm sâu của kỹ thuật dịch… hầu như đã có trong rất nhiều ý kiến sâu sắc của các học giả, dịch giả trước nay và phần lớn được tập hợp trong sách Dịch từ Hán sang Việt – Một khoa học, một nghệ thuật của Viện Nghiên cứu Hán Nôm - NXB Khoa học xã hội, 1982. Những lập luận kiến giải có tính khoa học và tổng kết thực tiễn đó có thể đã là tiền đề cho một hệ thống lý luận đầy đủ về dịch từ Hán sang Việt nay mai, trong đó có dịch thơ Đường.
Chuyện dịch thơ Đường ở ta xưa nay, ai cũng phải công nhận là khó, như chinh phục con ngựa bất kham. Có nhẽ, phải người thế nào mới có thể cưỡi được những giống Tử lưu, Hãn huyết ! Tuy thế, đây cũng lại là công việc luôn có sự hấp dẫn đặc biệt, say mê đặc biệt. Bởi đó thực chất là công việc sáng tạo, chỉ có khác là sáng tạo dựa trên/ và phải theo nguyên mẫu sẵn có. Có một điều là, dù rằng ai đó có thể không biết nhiều chữ Hán, song chỉ do những ý tình đem lại từ bản dịch nghĩa, đã có thể chuyển một bài thơ Đường thành một bài thơ tiếng Việt. Song một bản dịch hay, thế tất phải có dấu ấn tài năng của người dịch. Hơn thế nữa còn là phong cách riêng của người ấy.
Dịch Đường thi ra thơ Việt, cái tiêu chí: “ Tín-đạt-nhã”, hay “Chân- thiện-mỹ” thực chất cũng là cùng một nghĩa. Ấy là một bản dịch tốt tất phải chuyển cho được cái hồn thơ Đường sang thơ Việt. Đọc lên thấy vừa trung thành, vừa có sáng tạo theo cái nghĩa dịch sát và dịch hay, như thể hình ảnh vầng trăng in bóng nước vậy, “tuy hai mà một, tuy một mà hai” – Bán trầm thủy để, bán phù không” – Nửa chìm đáy nước, nửa nổi trên trời. Nước càng trong, hồ càng sâu thì vầng trăng càng lung linh, tươi đẹp. Tuy cũng có đôi ba trường hợp, vì phải ưu tiên cho cái thần mà đành hi sinh cái tín, kể cả những bài được xem là mẫu mực về nghệ thuật dịch thơ. Tỉ như bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế, Tản Đà dịch, nếu đưa bến thì phải là bến Phong Kiều chứ đâu phải bến Cô Tô – “Cô Tô thành ngoại” kia mà! Rồi, cây phong cũng bị bỏ chỉ còn là cây bến ! Ấy vậy mà dù cho ta có phải xuýt xoa đôi chút thì bản dịch vẫn xứng danh là tuyệt phẩm, người đến sau dẫu có như Lý Bạch chắc cũng đến phải gác bút như trước thơ Thôi Hiệu trên lầu Hoàng Hạc vậy. Kể cả bản dịch Tỳ bà hành: Câu thứ 2 ở khổ đầu: Phong diệp, địch hoa thu sắt sắt (có sách in là minh sắt sắt, ai đúng, ai sai?) - Lá phong và hoa lau xào xạc hơi thu. Phan Huy Vịnh dịch thành: Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu, bỏ mất chữ phong diệp - lá phong. Thêm nữa, Nguyễn Tuân đã từng thích thú mãi chữ dầm, cho rằng còn hay hơn nguyên bản trong câu: Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt – Nước mênh mông dầm vẻ gương trong, cũng của bài thơ đó. (Tiếc là cả hai bản Thơ Đường - Viện Văn học 1962, tái bản 1987, vẫn để là: Nước mênh mông đượm vẻ gương trong. Cũng không rõ nguyên gốc thế nào, việc này chắc phải nhờ đến các nhà văn bản học). Những trường hợp này chính là đã chuyển được cái thần, vẫn đúng thế mà lại hay đến thế ! Hóa cho nên, hình như là phải biết “ bỏ nơm lấy cá”, chớ có câu nệ về cái sự tín tầm thường trong dịch Đường thi. Tuy nhiên, đây có lẽ lại thuộc về câu chuyện văn tài người dịch.
Thơ Việt bao giờ cũng phải là thơ có vần điệu. Cảm quan văn hóa Việt vốn ưa như vậy. Còn nhạc điệu ẩn bên trong của thơ hiện đại lại là chuyện khác. Dịch bản Đường thi lại càng cần phải thế. Vần điệu các thể luật cũ: Lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú...thường vẫn gợi ra hơn vẻ cổ xưa, trang trọng. Mà sự trang trọng, nghiêm cẩn vốn đã là phong vị, cốt cách Đường thi. Đã có thực tế là những bản dịch Đường theo thể hát nói, tự do – như của Á Nam Trần Tuấn Khải - đã phải tự đào thải theo thời gian. Những gì còn, lại là những dịch phẩm theo thể truyền thống lục bát, song thất lục bát, uyển chuyển, nhịp nhàng mà đâu có thiếu phần thanh nhã, diễm lệ như thơ Đường. Một số ít vẫn còn theo nguyên thể. Mà ngay trong số này, cũng không sao sánh được những bản dịch ra lục bát, song thất lục bát như ta đã biết. Kể cả bản dịch tài hoa của Tản Đà theo nguyên thể tứ tuyệt– bài Tuyệt cú của Đỗ Phủ - Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu… – Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc… Mà xét ra tác phẩm – dịch phẩm ấy có phần cũng chỉ là kỹ xảo phô diễn của hai cao thủ võ công thâm hậu chứ chưa phải thực là chiêu pháp của chính phái bản môn!
Vì sao có hiện tượng này?
Hãy cứ lấy những gì vốn đã được “mặc định” xưa nay để đối chứng xem xét thì có thể thấy: Chắc hẳn phải hiểu rõ lắm tinh thần Đường thi, nắm rất vững nghệ thuật thơ ca dân tộc, trên cái nền chung cốt cách Á Đông, các cụ nhà ta mới có thể đối thoại cùng các thi sĩ Trung Hoa trong cách thức giữa những người tri âm, tri kỷ. Thù tiếp khách hào hoa lẽ đâu cẩu thả cho được. Thế nên, trong một số trường hợp thơ Đường tương giao cùng thơ Việt, lục bát, song thất lục bát quả là có đắc dụng.“ Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất” (Chu Văn Sơn, Sức sống mãnh liệt của lục bát, Tuyển thơ lục bát Việt Nam, NXB Hội Nhà văn - 2010). Đường luật là quốc bảo của dân tộc Trung Hoa cũng như Sonê của Pháp, Haiku của Nhật…Lục bát là quốc bảo của ta, ta cần đem lục bát ra mà đãi đằng khách tri âm. Những bản dịch lục bát thành công như đã biết đúng là đã đăng đối, hô ứng với Đường thi, rồi ra cả chủ lẫn khách đều cảm thấy hài lòng.
Đến nay chắc ai cũng phải thừa nhận rằng lục bát, song thất lục bát Việt có duyên với Đường thi hơn cả. Bằng chứng là những bản dịch thành công đều là ở hai thể thơ này. Đặc biệt có tỉ lệ rất cao ở các bài tứ tuyệt, ngũ ngôn và thất ngôn (Nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn từng cũng đã dịch thơ Haiku Nhật ra lục bát, nhiều bài cũng rất hay). Còn song thất lục bát tỏ ra cực kỳ thích hợp với những khúc điệu trường hận, ai oán trường thiên như ta đã thấy - Thiên trường địa cửu hữu thì tận, Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ– Thấm chi trời đất dài lâu/ Hận này dằng dặc dễ hầu cho nguôi ! (Trường hận ca, Bạch Cư Dị, Tản Đà dịch). Thể thơ này, nếu bảo là còn hơi hướng luật Đường ở câu song thất thì e cũng chưa phải, vì nó có nhịp 3/4, hoặc lẻ/chẵn, khác với nhịp 4/3 hay chẵn/lẻ đặc trưng của thơ Đường luật. Xem ra, nó hoàn toàn là của ta, như lục bát. Cái nhịp riêng câu song thất đó được kế thừa, biến điệu trong Thơ Mới, nhất là lối thơ 8 chữ - Bữa nay lạnh/ mặt trời đi ngủ sớm, Anh nhớ em/ em hỡi anh nhớ em…(Tương tư chiều – Xuân Diệu), kể cả trong thơ hiện đại về sau: “…Xin chớ hỏi/ tại làm sao như vậy- Tôi vốn không/ rành mạch bao giờ…(Sông Thao – Nguyễn Duy). Câu chuyện này chắc phải cậy đến các nhà thi pháp học soi xét, lý giải
Lục bát với thơ Đường?
Lục bát có 2 dạng thể như cách định dạng của Chu Văn Sơn: Điệu ngâm và điệu nói. Điệu ngâm thường vẫn cho cảm giác sang trọng hơn, hàm súc hơn. Điệu nói thì tự nhiên hơn, biến hóa hơn, gần với ngôn ngữ thường ngày. Điệu ngâm thường là lục bát thuần phong – nghiêm cẩn lề lối trên 6 dưới 8, phân minh lề luật bằng trắc, đều đều nhịp chẵn 2/2, và thường có tiểu đối, song đối. Điệu nói gần hơn với kiểu lục bát biến cách – uyển chuyển, phá cách, dài ngắn đan xen, vần nhịp tùy hứng…. Dùng để dịch ra thơ Việt, cái trang trọng, nghiêm cẩn của lục bát thuần phong rất đăng đối với cái trang trọng, nghiêm cẩn của thơ Đường. Sao có thể đem những biến cách ví như vần lưng, ví như câu thất luật bằng trắc để giao tiếp, đối thoại với thi nhân đời Đường! Chuyện giữ lễ với nhau giữa những khách phong lưu nào cũng khác gì. Trong sáng tác thì có thể, đó là sự cố ý của các bậc tài hoa – Rạng ngày sang trống canh năm, Anh dậy em hãy còn nằm trơ trơ. (Tú Xương – Đi hát mất ô). Còn trong dịch thơ Đường khó có thể chấp nhận. Nếu có dùng biến cách, thì cũng phải là chiêu pháp do những tay kiếm thuật thượng thừa.
Tuy thế, cũng không thể bảo rằng cứ phải nhất nhất lục bát hay song thất lục bát để dịch thơ Đường. Dù rằng, dường như cổ điển bắt buộc phải được đăng đối với cổ điển, khó có thể thiên lệch, tỉ dụ như hiện đại hóa thơ dịch Đường. Song, nói thế không có nghĩa nhất quyết chỉ là hình thức, mà là cái thuộc về tinh thần – tinh thần cổ điển tự bên trong, để mà đăng đối – như hai vầng trăng soi nhau qua bóng nước vậy. Và như ta đã thấy, Đường thi quá nhiều dạng vẻ, phong túc, kỳ vĩ. Có thể còn khá dễ dàng với ngũ ngôn, thất ngôn, tứ tuyệt. Song với những nhạc phủ, cổ phong, ca, hành, trường thiên…trừ ra một số ít nào đó, thì làm sao lục bát hay song thất lục bát có thể, nhất là khi vấp phải đặc trưng phong cách của nguyên tác - đặc biệt là những bài cổ phong trường thiên của Lý Bạch. Có lẽ đành phải theo cái cách “tùy cơ” mà “ứng biến” vậy thôi!
Khó có thể định đoán cho việc chỉ dùng một thể thơ nào để dịch Đường thi là phù hợp nhất, khả dĩ đem lại cái gọi là hiệu quả nghệ thuật tốt nhất! Tiêu chí nhận biết chung cho dịch Đường thi, có lẽ vẫn phải quay về với các cụ nhà ta: “ Tín-đạt-nhã”, dù chỉ có thể cảm –hiểu chứ khó mà suy lý cho thấu triệt giống như các nguyên lý nghệ thuật kiểu Á Đông vốn xưa nay là thế. Đành là vậy, nhưng khó làm sao! Các tiền bối Phan Huy Vịnh, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Tản Đà…chỉ là mở lối. Dịch Đường thi sang thơ Việt vẫn luôn còn vời vợi phía trước chúng ta.
Nếu xem đây là cuộc chơi ngôn ngữ thú vị, hơn thế nữa là cuộc đối thoại văn hóa kỳ thú, thì dịch thơ Đường đã và sẽ mãi là “vũ môn” của những văn tài.
VŨ KHÁNH
Nguồn: vietvan.vn