Bốn truyện ngắn trong Ván bài lúc hoàng hôn
là bốn câu chuyện “không đầu không cuối”. Mà cũng không phải là “câu
chuyện” vì chúng diễn ra không theo trình tự thời gian, không theo trật
tự không gian, không cốt truyện, không xung đột… Không gì hết. Đây đích
thực là cái làm nên sự khác biệt mà Oh Jung-hee nói trong thư gửi độc
giả Việt Nam: “... Việc đọc một tác phẩm văn học của nước khác không đơn
thuần là việc thu nhận kiến thức, hoặc nó không dừng lại ở việc thưởng
ngoạn mà chính là việc tiếp cận về mặt tinh thần với nền văn học khác”.
Bà cho người đọc với tiếp cận những sự kiện tưởng như vặt vãnh, đặt họ
vào những bối cảnh tưởng như không có gì đáng nói để họ tự do tư duy,
tự do cảm nhận theo cách của họ. Bà không có bất cứ một gợi ý nào cho
người đọc, bởi vì, như người ta thường nói, tác giả cũng là một độc giả
như bao người khác.
Trong Dòng sông lửa,
người đọc bắt gặp cuộc sống tẻ nhạt của một đôi vợ chồng trong căn hộ
37 mét vưông trên tầng 6 một khu chung cư xập xệ. Thật kỳ lạ là chính sự
tẻ nhạt ấy lại gợi trí tò mò, lôi cuốn người đọc. Đó là một người chồng
lúc thì giống một đứa trẻ hay một gã hâm (say sưa quan sát đàn kiến),
khi thì như một ông cụ hay một nhà thông thái (cặn kẽ giải thích về
lửa). Anh ta sống cuộn tròn, thu mình ngay trong ngôi nhà chỉ có 2 người
của mình. Anh làm thợ may với các công đoạn đơn điệu ở xưởng. Vợ anh ở
nhà cơm nước, không thân thhích, không bạn bè. Ngày ngày chị thêu mãi
một bức tranh mà không xong. Đêm đêm chị mỏi mắt chờ chồng đi làm về.
Chị cũng đơn côi và buồn tẻ không kém gì chồng. Chị thu mình đến mức
không biết bên ngoài thời tiết thế nào.
Truyện Ván bài lúc hoàng hôn cũng
đặt người đọc vào không khí tẻ nhạt và nhàm chán, tăm tối và bế tắc
không kém. Đó là một ngôi nhà cũ kỹ trong đó có một người bố già nua,
bệnh tật và một người con gái lỡ thì. Họ sống lặng lẽ, an bài. Hoàng hôn
xuống, hai cha con chơi bài với nhau nhưng chơi không phải vì thích thú
mà chơi để giết thời gian, chơi để chiều lòng người bố. Tối nào cũng
như tối nào, chậm chạp và sáo rỗng, cuuộc sống của hai con người không
cá tính cứ thế trôi đi.
Sự nghèo nàn cùng với những tệ nạn và những bi kịch của một cộng đồng pha tạp trong Xóm người Hoa
được Oh Jung-hee miêu tả khá thực. Song đáng nói hơn là cái hiện thực
ấy hiện lên rõ nét hơn trong đêm tối. Nhân vật của xóm được nhà văn nói
đến nhiều là một cô bé. Cô cùng gia đình chuyển nhà trong đêm, cô đi
nhặt than khi trời nhập nhoạng, cô chứng kiến cảnh chết người lúc khuya
khoắt… và thậm chí cô chia sẻ nỗi đau vượt cạn lần thứ tám của mẹ mình
cũng không ở nơi sáng sủa mà là “trong một hốc tường tối om, không một
chút ánh sáng nào lọt vào…”
Chỉ trong Chiếc gương đồng là
sự cô đơn, nhàm chán của một bà già nặn bột thừa và sự vô duyên, tội
nghiệp của một ông già nặng lòng với quá khứ được diễn ra trong ánh
sáng, giữa ban ngày. Nhưng, một lẫn nữa điều quan trọng nhất vẫn phải
diễn ra khi ánh sáng nhường chỗ cho bóng tối, khi ngày nhường chỗ cho
đêm. Đó là khi ông già từ giã cõi trần. Ông nhắm mắt vào lúc “Khu vườn
đã trầm mình vào bóng râm và trong ánh sáng nhập nhoạng của hoàng hôn
vừa trùm lên không gian…”
*
Oh
Jung-hee khác người ở chỗ dường như bà nói về Đêm nhiều hơn Ngày, nói
về Tối nhiều hơn Sáng. Tuy vậy, không bao giờ bà bị coi là lập dị. Bà có
cách tiếp cận và làm cho người ta tiếp cận sự vật bằng cách của riêng
mình. Đó mới chính là sự tự do của cả tâm hồn lẫn trí tuệ. Oh Jung-hee
thật sâu sắc, thật tinh tế trong khi trình bày những sự kiện, những
khoảnh khắc để người đọc tự khám phá ra những điều rõ rệt và mới mẻ từ
chính trong những cái còn tăm tối, mịt mờ và xưa cũ.
Đó
là người chồng “dở dở ương ương” không hút thuốc nhưng “luôn mang theo
diêm trong người như để tìm kiếm một sự an ủi nào đó… bởi anh luôn khao
khát thoát khỏi cuộc sống thực tại mà không có khả năng thực hiện’ (Dòng sông lửa). Anh ta đang âm thầm chuẩn bị một cuộc đốt phá nào đó chăng? Không, và nếu có thật như vậy thì tác giả của Ván bài lúc hoàng hôn
không còn là Oh Jung-hee nữa! Anh mang theo diêm là mang theo khát vọng
đổi thay. Việc anh am tường về lửa, nghiện mùi lửa cháy, say mê xem lửa
cháy… cũng có nguyên nhân từ khát vọng này. Cho đến một ngày, cái nhà
máy điện bị bỏ hoang gần nơi anh sống bùng cháy, “Tàn lửa tỏa ra như
pháo hoa, toàn bộ con sông rực ánh lửa đỏ” thì anh không chịu đựng được
nữa: anh “run lên bần bật” trong vòng tay vợ. Đến đây thì người đọc có
thể hình dung được điều tất yếu sẽ đến với anh: anh phải tự thay đổi
chính mình..
Ở Ván bài lúc hoàng hôn,
khoảnh khắc Oh Jung-hee đánh thức người đọc thoát khỏi cái u ám, cái bế
tắc lại là khi người đàn bà lớn tuổi cảm nhận được ánh mắt trong veo,
hút hồn, xuyên màn đêm của một tù nhân trẻ tuổi. Chính khoảnh khắc này
khiến chị phải nhìn lại mình: “Phải chăng vì sự tươi trẻ toát lên phía
sau bộ quần áo tù hay vì sắc mặt lạnh ngắt trên đôi má tròn xoe mà bỗng
nhiên tôi ý thức được sự già nua của bản thân mình’. Và, không có gì
đáng ngạc nhiên khi từ lúc này, chị tìm cách thoát ra khỏi những ván bài
buồn tẻ và hình thức bấy lâu.
Nhân vật mà Oh Jung- hee quan tâm nhiều hơn trong Xóm người Hoa
là một cô bé mới lớn. Có hai mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến cô.
Trước hết là với người cô gọi bằng bà, 65 tuổi. Cô gắn bó với bà chặt
chẽ hơn với mẹ vì mẹ cô hầu như lúc nào cũng sống cùng với việc mang
thai hay sinh nở, không còn thời gian dành cho con cái. Cô rất đỗi yêu
quý bà vì bà sống mẫu mực, chịu đựng và vì bà khi gần chết người vẫn
đẹp. Những tưởng cô bé không bao giờ bước khỏi cái bóng của bà, nhưng
không, dù vô tình cô vẫn phải rời xa những chuẩn mực mà bà tạo dựng
trong cô. Oh Jung-hee không nói ra điều đó và cũng không lý giải về nó.
Người đọc tự cảm nhận được nó qua những bước chân ít dần của cô bé từ
điểm xuất phát tới nơi cất giữ kỷ vật về bà (Cô giấu những mảnh vỡ từ
chiếc nhẫn ngọc bích của bà ở công viên. Từ điểm cất giấu cô bước đúng
65 bước - bằng số tuổi của bà, để làm mốc xuất phát. Đêm đêm cô đến đấy,
bước 65 bước là đến được với kỷ vật - như là đến được với người bà kính
yêu). Thời gian qua nhanh, số bước chân cứ ít dần, cô bé tưởng tượng
rằng đến một đêm nào đó khoảng cách bà - cháu chỉ còn lại một bước. Rồi
cô tự hỏi tại sao lại như vậy mà không biết rằng vì mình đã lớn, phải
gạt hoài niệm sang một bên. Cô cũng không biết rằng vì mình đã từng
thốt lên: “Tôi đã nhìn thấy ánh nắng hắt lên gót chân trần sáng chói
theo mỗi bước chân chuyển động của anh ta”. Cô cũng không biết rằng sau
cái thời khắc phát hiện ra những bước chân mới ấy, quan hệ giữa cô và mẹ
đã khác trước: cô trở thành thiếu nữ với những rung động mới mẻ còn mẹ
vẫn chỉ là người phụ nữ của bổn phận khốn khổ. Và, một lần nữa cô bé bắt
người đọc phải trả lời hộ cô vì sao “Nơi góc tường tăm tối, tôi gọi mẹ
bằng tiếng gọi nghẹn ngào trong nỗi tuyệt vọng không sao lý giải được”.
Đến Chiếc gương đồng, Oh
Jung-hee lặng lẽ bắt người đọc phải tìm lấy mối liên hệ giữa những hồi
ức lộn xộn, những việc làm ngớ ngẩn của đôi vợ chồng già với chiếc kính
vạn hoa lung linh sắc màu, với câu hát trong trẻo và hành động tinh
nghịch của đứa bé hàng xóm... Chưa hết, trong truyện này cái khó liên hệ
nhất, lạ kỳ nhất nhưng lý thú nhất là “Trong cái tĩnh lặng của bóng tối
phủ xuống bên ngoài, chỉ còn lại những chiếc răng giả ngâm trong nước
nhấp nháy, lóe sáng như muốn nói lên điều gì”. Qua hình ảnh này ta càng
thấy khả năng quan sát tinh tế và sâu sắc của Oh Jung-hee. Bà nhìn thấu
những chi tiết nhỏ mà lớn, vụn vặt mà khái quát, cô đơn mà chia sẻ…
Tập truyện ngắn Ván bài lúc hoàng hôn
thu hút người đọc trên nhiều phương diện, theo nhiều cách cảm thụ nhưng
phải thừa nhận rằng sự khác lạ về thời gian và không gian trong tác
phẩm đã tạo nên một “lực hấp dẫn” riêng. Dường như Oh Jung-hee không
muốn dùng thời gian của ngày và ánh sáng chói lóa để sự kiện và nhân vật
xuất hiện. Bà cũng không muốn trình bày mọi điều quá rõ ràng, không
muốn đẩy mọi việc vào sự đối lập của Ngày và Đêm, của Sáng và Tối. Bà
muốn đưa tất cả vào thời gian của đêm, vào không gian của bóng tối để sự
vật tự tỏa sáng nếu chúng có thể tỏa sáng. Lúc đó và ở đó sự vật mới tự
bộc lộ bản chất bằng ánh sáng tự thân hay ánh sáng phản chiếu để rồi
nhân vật, tác giả và độc giả dễ dàng hướng về chúng, đến với chúng. Qua
nét bút độc đáo, qua dụng ý nghệ thuật này, người đọc có thể liên tưởng
tới sự vận động, chuyển hóa của vạn vật theo triết lý Âm - Dương kỳ ảo.
Phải chăng nhà văn muốn gửi bức thông điệp rằng trong Đêm có Ngày, trong
Tối có Sáng, trong Đơn côi có Sẻ chia…? Cũng qua đó người đọc có thể
hình dung tới sự lóe sáng của đất nước và con người Hàn Quốc vào đêm
trước của một kỷ nguyên mới (Hầu hết bối cảnh của tập truyện là rơi vào
thời kỳ Hàn Quốc vừa ra khỏi cuộc chiến tranh thương đau). Có lẽ Oh
Jung-hee không trách rằng sự liên tưởng, hình dung ấy của người đọc là
thô thiển, bởi vì, như một người nào đó đã nói, đại ý: Không có nhà văn
nào lại trải nghiệm cuộc đời trong cô độc. Những gì mà anh từng trải qua
cũng là những gì mà đồng bào anh nếm trải .
Nguồn: Hội Ngôn ngữ học Việt Nam (Đỗ Thanh Thảo Miên & Đỗ Tiến Thắng)