Sử thi có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần nhân loại. Ở khu vực văn hóa hậu kỳ Maya Trung Mỹ, mảng sử thi Popol Vuh
đã vẽ nên đời sống tâm linh bí ẩn của dân tộc Maya - Quiché: những cánh
đồng ngô bao la mang bóng dáng con người, những đền đài hùng vĩ như sự
hiển hiện thần linh, những trận bóng tử sinh, dẫn đến lễ hiến tế, hoạt
động giao cấu và gieo hạt,… nơi đó nổi bật lên hình tượng anh hùng sử
thi.
1. Vấn đề người anh hùng sử thi
Lẽ
tất yếu, hình tượng nhân vật là chìa khóa giải mã tác phẩm. Văn học
mang đặc trưng tư duy hình tượng. Điều đó có nghĩa là văn học phản ánh
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan với phương pháp tiếp xúc một
cách cảm tính cách xa đối thể, tái hiện nó một cách sinh động toàn vẹn,
tương đối độc lập khỏi hiện thực khách quan; trong đó bao hàm thái độ
của con người và mối liên quan giữa các sự vật, hiện tượng. Tư duy hình
tượng của văn học, vì thế, thống nhất giữa tình cảm, lý tưởng, thể
nghiệm, hư cấu, trực giác và ngoại hiện thành những hình tượng tác động
vào tư duy, cảm nghĩ, tình cảm của người đọc. Như vậy, nhân vật văn học
là kết quả tất yếu của đặc trưng tư duy hình tượng của văn học. Đến lượt
mình, nhân vật văn học diễn hành với tư cách là một khái niệm mang tính
giá trị. Có nghĩa là trình độ nhà văn, tác giả cần đạt đến mức nhất
định mới có thể phát sinh những hình tượng văn học mang tính bản chất
phổ quát nhưng vẫn không loại trừ cái riêng, cái cá biệt. Nói cách khác,
tác giả văn học phải có một mô hình quan niệm về con người và thế giới,
từ đó cuộc sống văn học diễn ra từ khâu hình thành nhân vật, thể nghiệm
và đánh giá đến tiếp nhận, định giá hình tượng theo những thước đo cảm
thụ cá nhân người đọc… Trong quá trình này, nhiều hình tượng nổi lên
chiếm lĩnh vị trí của nó nhưng chủ yếu và thu được nhiều chú ý nhất từ
xưa đến nay trong các tác phẩm văn học vẫn là hình tượng nhân vật.
Hình
ảnh người anh hùng là ký mã quan trọng của sử thi. Rõ ràng tính dân
tộc, cộng đồng là một phạm trù trung tâm không thể phủ nhận trong sử
thi. Vì vậy, nhân vật anh hùng sử thi chủ yếu là các anh hùng, tráng sĩ
thể hiện ý chí, tư tưởng, tình cảm, khả năng của cộng đồng trong ánh
sáng gián cách sử thi. Ở một góc nhìn rộng hơn, người anh hùng sử thi
thể hiện trình độ phát triển của thời đại. Người anh hùng sử thi, trong
toàn bộ tính hiện thực của nó là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, cụ thể
là những mối quan hệ của thời đại anh hùng. Đó là giai đoạn tan rã các
hệ hình thần thoại, con người bắt đầu ý thức được giá trị bản thân thông
qua mối gắn kết với thị tộc, bộ lạc cộng đồng nhưng vẫn không quên ý
thức về sức mạnh và tài năng chiến trận, văn hóa của cá nhân. Bởi thế
hành động của người anh hùng sẽ phù hợp với ý nguyện và quyền lợi của
tập thể trong công cuộc chinh phục tự nhiên, xây dựng đời sống cộng
đồng. Tiếp nối tư duy huyền thoại, người anh hùng trong lịch sử và chiến
công mang tính thống nhất với sở hữu cộng đồng luôn được miêu tả theo
những chuẩn mực thẩm mỹ lý tưởng của dân tộc và thời đại. Đó là những
đặc tính rõ nét, những hành động vĩ đại,… mọi đường nét được khoa trương
phóng đại, khiến người anh hùng sử thi để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng
người đọc.
Nhân vật anh hùng sử thi Popol Vuh mang đặc điểm anh hùng dân gian. Nhân vật anh hùng trong phần hai Popol Vuh - hai người anh hùng thần thánh Hunahpú và Xbalanqué là loại hình anh hùng sử thi được định hình trong trên cơ sở truyền
thống các sử thi thần thoại kể về những bậc thủy tổ - những anh hùng
văn hóa, về các tích truyện dũng sĩ; xa xưa hơn nữa là các truyền thuyết
lịch sử, các bài tụng ca. Nảy sinh vào thời đại tan rã của chế độ công
hữu nguyên thủy và phát triển trong xã hội cổ đại, phong kiến, nơi còn
bảo lưu từng phần các quan hệ gia trưởng, sử thi anh hùng ảnh hưởng của
các quan hệ và quan niệm ấy, đã miêu tả về quan hệ xã hội như quan hệ tông tộc với tất cả các chuẩn mực luật lệ, tập tục.
Bởi thế những người anh hùng dân gian như Hunahpú và Xbalanqué luôn
được đặt trong các mối quan hệ bộ tộc, gia đình, cuộc hành trình của họ
xuống địa ngục cũng chính là nhằm trả thù cho cha và chú.
Ở
dạng cổ xưa nhất của sử thi, tính anh hùng còn hiện diện trong vỏ bọc
thần thoại hoang đường (các dũng sĩ không chỉ có sức mạnh chiến đấu mà
còn có năng lực siêu nhiên, ma thuật, kẻ địch thì luôn hiện diện dưới
dạng quái vật giả tưởng). Những đề tài chính được sử thi cổ xưa miêu tả:
chiến đấu chống quái vật (cứu người đẹp và dân làng), người anh hùng đi
hỏi vợ, sự trả thù của dòng họ. Với Popol Vuh,
người anh hùng thụ đắc dòng máu thần thánh, sinh nở thần kỳ và có phép
thuật tự thân; họ chiến đấu với hoàng tử và vua địa ngục được thể hiện
như thế lực ma quái thách thức, khuyến dụ và hãm hại con người.
Vì
đặc tính trên, chúng tôi đặt ra giả thuyết về bốn đặc điểm của người
anh hùng sử thi dân gian Hunahpú và Xbalanqué bao gồm tính thường nhật,
tính văn hóa sơ kỳ thị tộc, xung đột cốt yếu mang tính bản thể, triết
học và nhân vật anh hùng mang mẫu hình dân gian.
2. Mẫu hình anh hùng sử thi là một quá trình định vị văn hóa, lịch sử cộng đồng
Popol Vuh -
một dạng tổng tập văn học dân gian - được hình thành dựa trên nền tảng
xã hội Maya mà hạ kỳ của nó là Maya - Quiché. Nền văn minh Maya phát
triển trên một địa bàn rộng lớn mà trung tâm chính đặt tại bán đảo Yucatan, phía bắc lãnh thổ Guatemala
ngày nay. Đây được xem như đỉnh cao đầu tiên của văn minh bản xứ châu
Mỹ Latinh khởi đầu từ thế kỷ thứ IV phía nam Mexico và phía bắc Trung
Mỹ. Đơn vị hành chính trên lãnh thổ người Maya tồn tại kiểu thành bang
do một thủ lĩnh chính trị, thần quyền và quân sự lãnh đạo. Trong các
thành bang thì Quiché là đại diện tiêu biểu nhất cho sức mạnh văn hóa
nghệ thuật của người Maya. Ngay sau sự thất thủ của người Mexico
thì người Quiché được phát hiện ra với tư cách như một phần lịch sử bị
tiêu vong, ít được biết đến của người Maya, những chủ nhân của các thành
phố sầm uất kỳ vĩ bị bỏ quên một cách bí hiểm. Trước đó không lâu, cơ
cấu xã hội của người Quiché được hình dung bao gồm những mảnh nhỏ của
một nhà nước chính quyền trung ương gãy đổ để lại các phần tử nhỏ như
những thành bang thời Trung Cổ ở Ý. Vì sự phân tán này, tính thống nhất
và cố kết bản sắc trở nên yếu đi và ảnh hưởng của người Toltecs
(Mexico), như vậy, có cơ hội thể hiện sâu đậm. Chính người Toltecs đã
dạy người Quiché xây dựng những công trình bằng đá và sử dụng chữ tượng
hình, đồng thời để lại nhiều dấu vết trong hệ thống thần thoại của dân
tộc này. Sử thi hai người anh hùng trong Popol Vuh,
như vậy, có lẽ thuộc về giai đoạn khoảng từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII
khi xã hội cộng đồng chưa bị phân tách thành những thành bang; vấn đề
của con người lúc này chưa phải là khẳng định sức mạnh trên chiến trường
giành lãnh thổ mà là đối mặt với nỗi ám ảnh lớn nhất của đời người, lớn
nhất của những cá nhân hoặc cộng đồng bắt đầu có tư duy bản thể: Cuộc
chiến giữa cái sống và cái chết.
Tác phẩm Popol Vuh
thuộc nền văn hóa Maya - Quiché (lãnh địa Guatamala) ở vùng Trung châu
Mỹ. Tác phẩm này nằm trong hệ thống văn hóa cư dân bản địa, đặc biệt thể
hiện nhiều giá trị, luận điểm thú vị khi so sánh với sử thi Gilgamesh của vùng Lưỡng Hà hay Odysse
của Hy Lạp. Tương truyền tác phẩm này được một người Quiché vô danh ghi
lại bằng mẫu tự Latinh khoảng giữa thế kỷ XVI. Cuối thế kỷ ấy, một tu
sĩ dòng Domonico tên là Ximenes tìm thấy bản viết tay, dịch ra tiếng Tây
Ban Nha. Năm 1861 tác phẩm được công bố lần đầu bằng tiếng Pháp. Văn
bản được tin cậy nhất hiện nay là công bình biên khảo của nhà bác học
Đức L.Suntxe-Ena (1944). Popol Vuh
là một kiểu mẫu cho thể loại mang tính quốc tế: sử biên niên theo nghĩa
rộng nhất của từ này. Có nghĩa là nó bao gồm cả những lớp truyện đầu
tiên hoàn toàn là thần thoại đã in bóng vào lịch sử một cộng đồng dân
tộc đến những câu chuyện kể về một dòng họ lớn, những kỳ công của các
anh hùng… Về khía cạnh này thì có thể đặt tác phẩm ngang hàng với lịch
sử Trung Quốc trong Ngũ Kinh, Nihongi của Nhật,…
Tên Popol Vuh
có nghĩa là Những ghi chép của Cộng đồng (Record of the Community) hoặc
có thể dịch một cách trau chuốt là “Quyển sách mở ra trên tấm thảm” do
từ nguyên trong tiếng Quiché của từ pop hay popol là một tấm thảm dệt bằng cói hay bấc mà cả gia đình ngồi lên trong những đêm kể chuyện; từ vuh hay uuh
có nghĩa là mảnh giấy hay quyển sách do bắt nguồn từ động từ viết
(uoch). Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ Quiché. Đây là một phương ngữ
của giọng phát âm Maya - Quiché được dùng vào thời điểm xảy ra cuộc xâm
lược của người phương Tây từ biên giới Mexico ở phía bắc kéo dài đến
phía nam thuộc Nicaragua ngày nay. Trong khi tiếng Maya được dùng chuẩn
giọng Yucatan, bang Chiapas thì tiếng Quiché được người dân sinh sống ở
khu vực Trung Mỹ (hiện nay thuộc Guatemala, Honduras và San Valvador -
người bản ngữ vẫn dùng đến nay). Thứ ngôn ngữ này hoàn toàn khác hẳn
tiếng Nahuatl của người Anahuac hay Mexico về nguồn gốc và cả cấu trúc. Bởi thế mối quan hệ giữa ngôn ngữ Popol Vuh với các ngôn ngữ khác ở châu Mỹ mờ nhạt hơn cả mối tương quan giữa ngôn ngữ Slave và Zecman(1). Hiện tại tác phẩm này chưa được dịch sang tiếng Việt, tài liệu khảo sát của chúng tôi là bản tiếng Anh của Stas Bekman và bản của Goetz -Morley do thư viện đại học Ohio giữ bản quyền điện tử (Popol Vuh - www.meta-religion.com).
Thông
qua quyển bách khoa thư này, người đọc có thể hình dung về bức tranh
đời sống tinh thần của người Maya cổ xưa với những khát khao giải thích
tự nhiên và cuộc sống. Song hành cùng mục đích phổ quát này, tác phẩm
bộc lộ những đặc trưng riêng của người Maya khi tư duy và lý giải sự
vật, hiện tượng trong cuộc sống; đây chính là những điểm thú vị trong
văn học cổ đại châu Mỹ Latinh: Rằng đầu tiên con người được tạo ra từ gỗ
“Chúng cứ tiếp tục sống rồi sinh sôi nẩy nở,
chúng có con trai, có con gái bằng gỗ… nhưng tất cả đều không có linh
hồn, không có tâm trí và không thể nhớ về Thượng Đế, về Đấng Tạo Tác.
Chúng bò trên đất bằng tay và đầu gối bâng quơ, vô định”(2),
rằng trò chơi bóng không phải để giải trí mà nhằm giao hòa với thần Mặt
Trời và để tái tạo sự sống thần kỳ trên thế giới - đây cũng là căn
nguyên sinh sản vô tính thần thoại mà hai người anh hùng Hunahpú và
Ixbalamqué sở hữu...
Tác phẩm Popol Vuh
gồm bốn phần: Phần một là thần thoại về sự sáng tạo vũ trụ, kể lại từ
thời thế giới còn là một cõi hư không vô tận đến khi sông núi, đất đai,
muông thú, cỏ cây,… người đàn ông và đàn bà Quiché ra đời do công lao
của vị thần sáng tạo. Phần hai kể về sự tích của hai người anh hùng bộ
lạc do trí thông minh và lòng dũng cảm, lại được sự giúp đỡ của các vị
thần và muôn loài phù trợ đã diệt thù trong, thắng giặc ngoài; dạy dân
cách trồng trọt, mang lại hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho con người. Phần
ba gồm các truyền thuyết về lịch sử người Quiché, những cuộc di dân xa
xưa của họ, những cuộc xung đột bên trong và mối quan hệ với các bộ lạc
xung quanh. Phần bốn viết về lịch sử bộ lạc thời kỳ gần gũi với niên đại
ra đời của tác phẩm. Biểu thế hệ dòng họ quý tộc, những lời tiên tri,
trình độ tổ chức xã hội được ghi lại trong tác phẩm này là sự phân chia
giai cấp ở giai đoạn sơ kỳ. Như vậy, Popol Vuh là
một tập hợp mang tính lịch đại hệ thống những câu chuyện sáng thế, sử
thi anh hùng, dòng họ và chiến tranh bộ lạc; tất nhiên bài viết này chỉ
khảo sát phần hai - sử thi về hai người anh hùng thần thánh.
3. Đặc điểm loại hình anh hùng sử thi Popol Vuh
Rõ ràng, đây là dạng anh hùng văn hóa (khác với anh hùng chiến trận trong Ramayana, gần gũi hơn với Gilgamesh và Odysse), được thể hiện rõ về nguồn gốc và chiến công của người anh hùng.
Trước
hết, về nguồn gốc, Hunahpú và Xbalanqué được thể hiện trong tác phẩm
mang một dòng họ danh giá - motif xuất thân cao quý này có thể gặp được
trong hầu hết các sử thi nhân loại. Xuất phát từ cặp cha mẹ thần thánh
Xpiyacoc và Xmucane, người được thần linh tạo ra như hai bản thể đầu
tiên của con người linh thánh. Cha mẹ thần thánh sinh hai người con trai
là Hunhun - Ahpu và Vukub - Hunahpu. Người anh Hunhun - Ahpu lấy vợ
sinh được hai con trai, nhưng sau đó ông làm cho Xquiq (Máu) công chúa
con quốc vương Cuchumaquiq, người một mình dạo chơi địa phủ, mang thai;
hai anh em thần thánh ra đời từ người cha lưỡng tính và người mẹ đặc
biệt. Chi tiết thụ thai thần kỳ xuất hiện trong dạng anh hùng sử thi dân
gian khá đậm nét. Công chúa Xquiq xuống địa phủ chơi, nàng giơ tay hứng
lấy chiếc đầu của người anh hùng treo trên thân cây leo, chiếc đầu rơi
xuống tay nàng và nước miếng làm nàng thụ thai. Từ chi tiết thụ thai
thần kỳ, anh em được cung cấp cho cơ sở để có thể thụ đắc những công cụ
kỳ diệu, những pháp thuật huyền vi trong cuộc lao động hằng ngày lẫn
cuộc thử thách dưới âm phủ.
Như
vậy, hai anh em Hunahpú và Xbalanqué không là hóa thân của thần linh
nhưng lại tự nhiên sở hữu những phép thuật kỳ diệu và cuối cùng thăng
thiên thành mặt trăng mặt trời. Đây là cái gốc rễ dân gian ăn sâu trong
tư duy sử thi. Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng, nguồn gốc thần thánh
hay dòng máu thiêng liêng không phải là điều đặc sắc nhất tạo nên tầm
vóc người anh hùng sử thi bởi trước sau thì anh em Hunahpú và Xbalanqué
vẫn được thể hiện như những người trần gian trong tất cả khó khăn khi
đối mặt với cái chết… Chính những điều này càng làm cho người anh hùng
sử thi tỏa sáng với kỳ công lẫy lừng của họ.
Ở
đây, có thể thấy Hunahpú và Xbalanqué không được xây dựng theo kiểu lý
tưởng. Khi bị bà ngoại đuổi ra khỏi nhà thì những đứa trẻ đã nhanh chóng
làm quen được với cuộc sống ngoài tự nhiên và chúng trở thành những thợ
săn thiện nghệ, với ống thổi chúng săn chim và muông thú. Sau khi trừng
phạt xong hai người anh cùng cha khác mẹ thì họ lại được miêu tả là
những nhạc sư vĩ đại… Những nét này nằm trong hệ thống chi tiết của nhân
vật cổ tích dân gian, không lý tưởng nhưng đủ giúp ích cho nhân vật
trong quá trình hoạt động tương lai của họ. Từ đó, có thể thấy chính
tính nhân loại chứ không phải lý tưởng tạo nên sức thành công của các
anh hùng sử thi như Achille, Odysse, Rama, Gilgamesh,… những kỳ công của
họ sáng ngời không phải với tư cách những vị thần mà là những con người
nhất.
Hai
anh em anh hùng sử thi Maya sơ kỳ còn phải đối phó hằng ngày với nhiều
loại kẻ thù, cả hai chân lẫn bốn chân, nơi họ không có khái niệm đạo đức
khoan dung độ lượng. Bởi thế để trả thù những người làm cho cuộc sống
họ khó khăn, hai anh em biến bọn cùng cha khác mẹ thành những con khỉ,
một cách nào đó, họ còn uy hiếp cả bà nội thần thánh. Những thử thách
trong xã hội Maya sơ kỳ chưa phát triển đến mức những cuộc chiến kinh
thiên động địa như Ramayana hay cuộc chiến Troy,… mà chỉ dừng ở mức thử
thách. Song không vì vậy mà kém phần nguy hiểm, bởi thử thách của vua
địa ngục quyết định sự sống và cái chết của hai người anh hùng. Bởi thế
chiến tranh hay đúng hơn là việc thi tài không nằm ở tài phép, vũ khí mà
chủ yếu là trí thông minh và tinh xảo để giành phần thắng (gần với Odysse). Thay cho cái hùng ở Ramayana, Iliad là cái hài, cái sảng khoái vì chính nghĩa thành công, cuộc đấu tranh mang nét hài là vì thế.
Hai
người anh hùng sử thi chỉ mới là bức thảo ban đầu của những nhân vật sử
thi sẽ phát triển về sau. Hai anh em được đẩy lên đường nhằm mục đích
báo thù, tình yêu đối với họ không có mối liên quan mật thiết. Đẩy ngược
lên thế hệ trước, cha mẹ họ cũng không thấy xuất hiện định nghĩa tình
yêu hay những xung động rạo rực, tất cả chỉ là một sự xếp đặt, một mắt
xích trong cái vòng tuần hoàn chu kỳ sự sống và cái chết. Vì thế hình
tượng hai người anh hùng Hunahpú và Xbalanqué thể hiện nét nhân bản ở ý
nghĩa chiến công mang bản chất nhân loại của họ.
Ở Popol Vuh, có thể nhận thấy một hệ hình có lẽ cổ xưa hơn cả Mahabahrata
(có thể đối sánh với thần thoại Ấn nơi bản thân tam vị nhất thể), trước
cả hệ thống đa thần Hy Lạp. Tác giả dân gian xây dựng mẫu người anh
hùng lưỡng hợp, lưỡng tính. Có thể nói tính lưỡng hợp có một dấu ấn đặc
trưng của khu vực văn hóa châu Mỹ Latinh cổ đại và còn ảnh hưởng nhiều
đến văn học hiện đại (Đó là tính song trùng trong mô hình quan niệm
Marquez trong Trăm năm cô đơn khi ông xây
dựng sự đan xen thực và ảo, cặp anh em nhà Buendia giống nhau như đúc
đến nỗi khi chết họ bị đặt nhầm quan tài,…). Người anh hùng phải là hệ
số chẵn trong bản thể và tính chất. Nếu như cha mẹ thần thánh sinh hai
người con trai thì người anh cả Hunhun - Ahpu lưỡng tính lại có vai trò
quan trọng hơn người em trai Vukub - Hunahpu. Chính Hunhun - Ahpu do vợ
chết nên mới cùng em trai xuống địa phủ nhận thử thách và chính ông đã
cùng với công chúa Huyết tạo thành hai người anh hùng thần thánh chiến
thắng sức mạnh cái chết. Mô hình anh hùng song trùng lưỡng hợp có thể
thấy rõ nhất trong cặp anh em Hunahpú và Xbalanqué. Họ gắn bó với nhau
trong tất cả các sự kiện, từ làm ruộng ngô, săn bắn, biến hai người anh
thành khỉ, chấp nhận thư khiêu chiến và vượt qua mọi thử thách nơi âm
ti, cuối cùng họ trường tồn cùng nhau trong thế song hành của mặt trời
và mặt trăng.
Mô
hình quan niệm này có thể truy nguyên về cơ sở văn hóa xã hội khu vực,
điều này đụng đến tính chất nền nông nghiệp trồng ngô mà người Maya đã
phát triển và tư duy theo đó. Chứng cứ di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần dưỡng ngô diễn ra vào khoảng năm 7000 tr.CN tại miền trung Mexico, có thể trong khu vực cao nguyên nằm giữa Oaxaca và Jalisco. Các dấu tích khảo cổ của các bắp ngô có sớm nhất, được tìm thấy tại hang Guila Naquitz trong thung lũng Oaxaca, có niên đại vào khoảng năm 4.250 tr.CN, các bắp ngô cổ nhất trong các hang động gần Tehuacan, Puebla, có niên đại vào khoảng 2750 tr.CN. Ngô là lương thực chính của phần lớn các nền văn hóa tiền Columbus tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và khu vực Caribe.
Các nền văn minh Trung Mỹ đã được tăng cường sức mạnh nhờ vào ngô; nhờ
việc thu hoạch nó, nhờ tầm quan trọng về mặt tôn giáo và linh hồn của nó
cũng như ảnh hưởng đối với khẩu phần ăn uống của họ. Ngô tạo ra sự đồng
nhất về tư tưởng của người dân Trung Mỹ. Điều này tạo nền tảng định
hình nền văn hóa, văn học Mỹ Latinh sau này. Trở lại, ngô
là một cây trồng ở nhiều nơi, có vòng đời một năm, cao từ 1 đến 2m, lá
mọc so le, hình dải, hoa đơn tính cùng gốc bao gồm: hoa đực nhỏ, mọc
thành bông ở ngọn, hoa cái mọc cạnh nhau, được bao bởi nhiều lá bắc to,
vòi nhụy dài, quả dĩnh, hạt nhiều, xếp thành hàng. Mùa hoa quả nằm vào
tháng 4 đến tháng 6, hoặc tùy thuộc vào mùa gieo trồng trong năm…(3). Như vậy, cây ngô - hay Thần ngô -
danh vị được cư dân Trung Mỹ huyền tác và gắn kết vào đó nhiều lớp ý
nghĩa thiêng liêng mang tính tôn giáo đã quyết định mô hình tư duy của
họ, cụ thể là tác giả Popol Vuh.
Cây ngô lưỡng tính để sinh sôi nẩy nở và ban sự phồn vinh cho cộng đồng
thì người anh hùng cũng phải lưỡng tính để chiến thắng. Hệ thống ý
nghĩa liên quan đến cây ngô còn ảnh hưởng đến hình tượng người anh hùng
sử thi trong ánh sáng ý nghĩa kỳ công của họ.
Thứ đến, về chiến công, Popol Vuh thể hiện hành trình của hai người anh hùng thần thánh như là một cuộc đấu tranh thiêng liêng giữa sinh và tử - vấn đề triết học của nhân loại. Điều này thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, người anh hùng sử thi trong Popol Vuh gắn liền với hoạt động mang tính tín ngưỡng và xã hội: trò chơi bóng. Hoạt động này có thể được lý giải
theo ba phương diện: Trò chơi sinh tử có liên quan đến hiến tế, cầu mùa
màng; chiến tranh thông qua thể thao: cuộc đấu tranh giữa con người và
các thế lực chống đối, hủy diệt, tức chống lại cái chết. Cuộc đấu bóng
không chỉ là thể thao mà có ảnh hưởng đến vận mệnh toàn cộng đồng về
kinh tế và chính trị. Bởi thế đội trưởng của đội thua chính là đối tượng
hiến tế, tuy nhiên từ góc độ văn học, có thể xét hình tượng không gian
sân bóng như một mã lý giải ý nghĩa sinh tử. Sân bóng là nơi quyết định
sinh tử, là nơi có những cái chết trong hoặc sau khi thi đấu vì những
nguyên nhân trực tiếp lẫn gián tiếp. Trong Popol Vuh,
sân bóng là nơi cha và anh cũng như bản thân hai người anh hùng thần
thánh đi xuống địa ngục. Như vậy, sân bóng và chơi bóng có thể được xem
như những thành tố của một huyền thoại thiêng liêng mà người Mỹ Latinh
cổ xưa gìn giữ dưới lớp đá thời gian trong những thành phố bỏ hoang mấy
trăm năm của họ. Lý giải được hoạt động tín ngưỡng thiêng này chính là
xác định được cái lý của hình tượng, hay là hạt nhân mô hình quan niệm
con người và thế giới của tác phẩm sử thi.
Thứ hai, những người anh hùng thần thánh trong Popol Vuh đối
mặt trực tiếp với những thử thách của chúa tể vương quốc bóng tối, nơi
người ta hành xử những kẻ tội đồ. Sáu cửa ngục gồm ngục tối, ngục lạnh,
ngục hổ, ngục lửa, ngục giáo và ngục dơi chính là những trở lực mà người
Mỹ Latinh phải đối mặt hằng ngày giữa núi rừng Trung Mỹ hoang vu ẩn
chứa nhiều thử thách. Như vậy, hành trình và thắng lợi của hai người anh
hùng sử thi chính là phản ánh cuộc đấu tranh của con người chống lại
trở lực của cuộc sống, nói một cách hình tượng là chống lại cái chết. Vì
vậy nếu Hanuman giúp Rama là hành động giúp đỡ do ủy thác thì việc
muông thú giúp cho anh em Hunahpú và Xbalanqué có thể xem như là cùng
mối đồng cảm, cùng đứng về lực lượng trần gian chống lại địa phủ như lời
họ nói với những đấu thủ chơi bóng, rằng muông thú không đứng về phía
Xibalba. Cuộc đấu tranh của họ, vì vậy mang tính triết học và thực tiễn
tương đồng với Gilgamesh, khá gần với Odysse, trong khi ngoài tính lịch sử thì cuộc chiến của Rama mang tính đạo đức, cuộc chiến thành Troy mang tính văn hóa.
Cần nói thêm một điều thứ ba rằng, về mặt lý luận, sẽ khá lý thú khi soi chiếu bản chất chiến công của sử thi anh hùng Popul Vuh
với hệ thống lý luận sử thi phương Đông và phương Tây. Hegels đã trình
bày đặc điểm sử thi thành bốn điểm: tính khái quát, tính xung đột, tính
lý tưởng và tính giáo huấn. Trong đó, ông khẳng định: “Chỉ có những cuộc chiến tranh giữa các dân tộc xa lạ đối với nhau thì mới là có tính sử thi”.
Bởi đó là cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ cái chung, quyền tồn tại của bộ
tộc, cộng đồng; không có mối liên hệ nào về đạo lý bị phá vỡ, không cái
gì tự thân có giá trị bị vi phạm. “Các cuộc nội
chiến… thích hợp với lối trình bày của kịch hơn. Chính vì vậy mà ngay từ
thời của mình Aristote đã khuyên các tác giả bi kịch hãy chọn những chủ
đề có nội dung là những cuộc huynh đệ tương tàn…”(4). Vì lẽ đó mà Hegel biểu dương Iliad của Homer trong khi lại không đánh giá cao sử thi Mahabharata vì tính chất nội bộ của cuộc chiến; trường hợp Ramayana
thỏa mãn yếu tố xung đột nhưng câu chuyện tình của người anh hùng Rama
lại nằm ngoài khung mà Hegel dành cho sử thi. Bởi lẽ, người Ấn Độ cho
rằng sử thi phải hội đủ ba yếu tố: anh hùng (epic), diễm tình (lyric)
lẫn bi kịch (drama) - chiến công của người anh hùng là bảo vệ chánh pháp (đại ngã - Braman) nhưng phải được sáng lên trong ánh sáng của tình yêu con người (tiểu ngã - Atman). Trường hợp sử thi hai người anh hùng Maya - Quiché,
cuộc chiến của họ phù hợp với tiêu chí của Hegel, đó là cuộc chiến của
con người và cái chết, của tộc Quiché và các dân tộc vùng cao nguyên
phía Nam - Xibalba - là xứ sở của nỗi sợ hãi. Ở điểm này sử thi Popol Vuh
gần với lý luận phương Tây hơn. Tuy nhiên, mặc dù Hegel vẫn đề cập đến
hình ảnh người anh hùng với chiến công vĩ đại, tiêu biểu cho tập thể
cộng đồng nằm trong một mô hình quan niệm ở dạng sơ khai, nơi phạm vi
của người anh hùng là thế giới, nơi tận cùng của hiểu biết, là giới hạn
hữu
hạn của cái vô hạn con người, nơi đó người anh hùng vừa là sự vẹn toàn
vừa đặc trưng cụ thể như một cá nhân; thực tế Hegel có vẻ đắm mình trong
ánh sáng Thần học và quan niệm sử thi như một tổng thể tập trung vào
một anh hùng hiện thực chứ không phải một đám đông ở chỗ ông cho rằng trường ca thần linh không thể là mẫu sử thi hoàn thiện(5). Như vậy, lẽ tất nhiên chiến công của 5 anh em Pandava trong Mahabharata hay hai anh em Hunahpú và Xbalanqué đang khảo sát - mặc dù được giải thích như bản thể linh thánh nhưng cũng không nằm trong dạng thức trung tâm cá nhân của Hegel. Từ góc nhìn này, mảng sử thi Popol Vuh gần gũi hơn với sử thi phương Đông nói chung và Ấn Độ nói riêng. Như vậy, bản thân sử thi cổ khu vực Mỹ Latinh
tự nó đã thể hiện mình như một tổng thể mang bản sắc riêng, trong hoàn
cảnh hạn chế về tư liệu lưu truyền lại, chúng ta chưa thể tái hiện được
bức tranh bao quát lý luận văn học cổ Mỹ Latinh, nhưng phần nào cũng có thể nhận ra những ánh sáng không kém phần lý thú.
Sau cùng, thông qua nguồn gốc và chiến công của những người anh hùng sử thi trong Popol Vuh, có thể nhận ra tiến trình vận động của cộng đồng Maya - Quiché,
nói cách khác, đó là hạt nhân hiện thực trong sử thi. Theo hướng này,
nhà nghiên cứu Phan Thu Hiền đã xác định con đường sử thi Ramayana
là hành trình của một hoàng tử từ vùng sông nước Bắc Ấn, đi dài xuống
núi rừng Nam Ấn và qua Srilanka cứu công chúa chính là bóng dáng hành
trình của người Aria từ phía Bắc xuống phía Nam, từ miền sông xuống miền
biển; không khí xích đạo ngày càng nóng. Bởi vậy, khi đánh nhau với vua
khỉ ở phương Nam, sử thi miêu tả làn da đỏ của hai người hòa vào nhau
như mặt trời lên. Trên con đường chinh phục của người Aria, những nhóm
dân nào thuận tòng theo thì được xem là khỉ, còn người chống lại họ tại
khu vực Srilanka (đảo Lanka) thì bị coi là quỷ. Hạt nhân hiện thực thể
hiện ở việc miêu tả vương quốc quỷ này: họ là người bản địa sống trong
một kinh thành tráng lệ, vua quỷ cũng hào hùng và uy dũng. Vì thế mới
thấy được lòng chung thủy của nàng Sita khi bị dụ dỗ bởi vương quyền,
tráng lệ, làm hoàng hậu Lanka uy quyền; lòng chung thủy này ngược lại
không còn mấy ý nghĩa khi nàng được dụ dỗ làm vợ chúa quỷ - theo nghĩa đen. Như vậy, tác phẩm sử thi phản ánh hình tượng lịch sử dân tộc Ấn - cuộc chinh phục hòa bình của người Aria đối với người Dravian không phải chiến tranh xâm lược mà là lan hòa của ánh sáng(6)..
Gần gũi hơn với hành trình xuống vùng dưới đất Xibalba của hai anh em Hunahpú và Xbalanqué là hành trình của người anh hùng Hy Lạp Odysseus.
Nhân vật này cũng từng xuống âm phủ theo lời nữ thần Circe, nhằm tìm
linh hồn của Tiresias để hỏi đường về nhà. Qua sông mênh mông của
Cimmerians, người anh hùng đã đổ rượu cúng và tế hiến sinh theo lời
Circe để làm vui lòng linh hồn người chết. Nhờ thế Odysseus đã gặp lại
hồn Elpenor, gặp tiên tri và biết được con đường của mình, anh còn gặp
những người anh hùng, những tội nhân khác đang bị trừng phạt: Sisyphus đang
vần tảng đá, Tantalus bị đói khát hành hạ. Đoạn xuống âm phủ của
Odysseus được đan cài vào nhằm mở rộng bối cảnh cũng như giúp tác giả
đào sâu hơn các khía cạnh cá nhân của những người anh hùng trong Iliad
và thần thoại Hy Lạp. Đây cũng là một dạng thử thách người anh hùng nối
tiếp và mắc xích các dạng thử thách trên biển, đảo, trong động, cung
điện phù thủy,… - những không gian quen thuộc trên bước đường mà những
thủy thủ vùng Địa Trung Hải gặp phải trên các cuộc hải hành. Âm phủ là một dạng không gian khác, là nơi của người chết và dễ gây cảm giác khiếp sợ.
Cũng
vậy, hành trình xuống vương quốc Xibalba của hai người anh hùng Maya
phản ánh bước đường di chuyển về phía Nam của người Maya. Khoảng thế kỷ IX, người Maya đã bắt đầu tiến hành lấn về phía Nam,
đánh bại nhóm người Nahua (dấu vết của người Nahua còn thể hiện lại rất
rõ trong hệ thống tên địa danh mà sau này người Tây Ban Nha ghi nhận về
vương quốc Maya) và từ từ mở rộng khắp khu vực lãnh thổ Guatemala ngày
nay. Con đường Nam tiến này được tích lũy dần vào hệ thống văn học dân
gian của các nhóm cộng đồng và cuối cùng định hình bằng Popol Vuh
của nhóm Quiché. Từ khu vực bán đảo Yucatan mà trung tâm là khu
Chitchen Itza với khí hậu nhiệt đới, độ ẩm cao, mưa nhiều chuyển về
phương Nam, đối mặt với những dãy núi cao xứ Palenque và Copén với khí
hậu khô và ôn hòa, người Maya hình dung ra vận mệnh của họ như thân cây
mà hai người anh hùng trồng ở quê nhà, sẽ khô héo khi họ gặp nguy hiểm ở
địa phủ -
đây chính là những khó khăn mà một tộc người gặp phải khi đối mặt với
sự biến đổi độ ẩm không khí. Những bước chân trên đồng bằng duyên hải
Yucatan bắt đầu phải vất vả với những triền núi phương Nam, những hốc
đá, những hang động trong lòng núi, họ như bị hút vào một vệt dốc thăm
thẳm như kéo con người xuống lòng đất với muôn vàn những nguy hiểm cận
kề, con đường xuống địa phủ có lẽ được hình thành trong tâm thức đó. Như
chúng tôi đã phân tích, thử thách địa phủ không phải là những trận đấu
pháp thuật của những hồn ma mà chính là những khó khăn mà con người phải
vượt qua khi đối mặt với một thiên nhiên khắc nghiệt. Cuối cùng, họ cứu
được linh hồn Hunhun - Ahpu, Vukub - Hunahpu và vinh danh thành mặt trăng và mặt trời -
đây là ngày khải hoàn của sắc dân chiến thắng, giải phóng tù binh và
phong thánh, biến các anh hùng của bộ tộc thành các vị thần quyền uy và
áp đặt cho những người bản xứ. Như vậy, phần sử thi Popol Vuh
phản ánh hạt nhân hiện thực và con đường tiến lên phương Nam của người
Maya. Con đường lý giải ý nghĩa lịch sử của các tác phẩm dân gian đã và
đang mở ra nhiều triển vọng nhưng không phải không có những khó khăn,
đặc biệt là do một khoảng cách thời gian đủ xa, dễ đẩy người quan sát
vào thế gắn cái nhìn chủ quan vào các sự việc được xâu chuỗi theo tiền
giả định nhất định- mà không phải lúc nào cũng chính xác. Tuy vậy, nhìn
ra được hướng vận động của hiện thực, đặc biệt trong trường hợp sử thi,
chính là khái quát hóa được cuộc sống của cộng đồng - điểm xuất phát mà cũng là đích của sử thi - thì phần thưởng lớn lao này luôn khuyến khích các nỗ lực lý giải như là những viên đá lát con đường đến chân lý.
Như vậy, thông qua khảo sát nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh hùng sử thi trong phần sử thi anh hùng Popol Vuh, chúng tôi có một số nhận định ban đầu như sau:
Thứ
nhất, hình tượng người anh hùng sử thi trong tác phẩm sử thi là kết quả
phản ánh mô hình xã hội, nguyện vọng và quan điểm của quần chúng nhân
dân, cộng đồng nhất định. Nguồn gốc quan niệm này chỉ được lý giải thông
qua những vấn đề văn hóa, lịch sử và đến lượt mình quan niệm này trở
thành chìa khóa giải mã và lý giải các thành tố cấu trúc tác phẩm, trong
đó nổi bật là anh hùng sử thi.
Thứ
hai, hình tượng anh hùng sử thi là một quá trình mang tính quan niệm.
Quan niệm này là sự nối dài và thống nhất mô hình thế giới đã nêu ở
trên; hình tượng anh hùng là quá trình phản ánh chặng đường phát triển
của thể loại, đây là nguyên nhân quyết định sự phân lập loại hình và đặc
điểm người anh hùng sử thi trong Popol Vuh với các điển thể sử thi phương Đông và phương Tây.
Thứ ba, hình tượng người anh hùng sử thi được phác họa và thể hiện rõ đặc điểm, trong phần sử thi anh hùng Popol Vuh.
Mẫu anh hùng sử thi này, vì thế, được giải thích từ nguồn gốc văn hóa
xã hội, mô hình quan niệm và hiện thực lịch sử của mỗi cộng đồng… Thông
qua quá trình này, đặc điểm thể loại và dân tộc của thể loại sử thi được
thể hiện rõ nét, điều này cũng chứng minh được tính giá trị của sử thi Popol Vuh...
_____________
(1) Lewis Spence: The Popol Vuh- The Mythic and Heroic Sagas of the Quichés of Central America. Long Acre, London: David Nutt - Sign of the Phoenix, 1908.
Xin xem: - Raphael Girard, Blair A. Moffett (translator): Esotericism of the Popol Vuh. Theosophical University Press, 1979.
- Phan Quý: Pôpôn-Vu, trong sách Từ điển văn học (Bộ mới). Nxb. Thế giới, H, 2004, tr.1457.
- Nhật Chiêu: Câu chuyện văn chương phương Đông. Nxb. Giáo dục, H, 2003.
- Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân…: Văn học phương Tây. Nxb. Giáo dục, H, 2001.
- Nhữ Thành: Thần thoại Hy Lạp. Nxb. Văn học, H, 1983.
(2) Benjamin Keen: Reading in Latin American civilization: 1942 to the present. Boston: Houghon Mifflin, 1955.
(3) Võ Quang Yến: Bắp, ngô - một cây lương thực quan trọng. Nghiên cứu và Phát triển, số 2 (40) - 2003.
(4) Hegel: Mỹ học (Phan Ngọc dịch và giới thiệu). Nxb. Văn học, H, 2005, tr.949.
(5) Hegel: Mỹ học. Sđd, tr.934.
(6) Phan Thu Hiền: Sử thi Ấn Độ – Tập I: Mahabharata. Nxb. Giáo dục, H, 1999.
Nguồn: Viện văn học ( Nguyễn Thành Trung)