Trước khi A. Gide xuất bản tiểu thuyết Bọn làm bạc giả vào năm 1926, ông đã công bố một loạt tiểu thuyết, thường được ông gọi là récit (truyện kể) như: Kẻ vô luân (L'Immoraliste, 1902); Cánh cửa hẹp (La Porte étroite, 1909); Khúc nhạc đồng quê (La Symphonie pastorale, 1919). Đặc biệt hơn là cuốn Những tầng hầm của Vatican (Les Caves du Vatican, 1914), được tác giả xác định là sotie,
một thuật ngữ cũ mang tính chất hài. Các truyện kể này về cơ bản đều
theo lối truyện truyền thống, đơn tuyến và có mối liên hệ chặt chẽ với
tiểu thuyết thế kỷ XIX. Trừ Những tầng hầm của Vatican, người kể chuyện (NKC) trong ba truyện kể: Kẻ vô luân, Cánh cửa hẹp và Giao hưởng đồng quê đều từ ngôi thứ nhất, số ít, xưng “Tôi” (Je). Kẻ vô luân bắt đầu bằng một bức thư ngắn chưa đầy bốn trang khổ nhỏ. Còn trong Cánh cửa hẹp, nhân vật "tôi" đã kể về mình: "tôi chưa đầy 12 tuổi khi cha tôi mất...". Khúc nhạc đồng quê có hình thức của nhật kí(1). Như
vậy, trong cả ba cuốn sách, ngay từ trang đầu tiên, tác giả đã cho xuất
hiện nhân vật chính và lý do tồn tại của câu chuyện thông qua nhu cầu
được phát ngôn của nhân vật chính đồng thời là NKC xưng "tôi", thể hiện
rõ nhất qua các động từ nói, kể (parler, dire, raconter). Việc sử dụng hình thức NKC ở ngôi thứ nhất đã khiến câu chuyện mang màu sắc tự thú, bộc bạch.
Điều này chúng ta có thể thấy rõ hơn qua lời bộc lộ của ông trong Lời tựa cuốn Kẻ vô luân (là một trong số rất ít cuốn sách của Gide có Lời tựa). Như chính Gide khẳng định đó là "một câu chuyện mang tính khái quát, không chỉ giới hạn là một cuộc phiêu lưu cá lẻ" (LPT nhấn mạnh). Như vậy "tầm" của cuốn sách đã được xác định rõ. Ngoài việc khẳng định "câu chuyện mang tính khái quát", trong Lời tựa Gide còn xác định rõ chỗ đứng khách quan
của mình trong tác phẩm. Trong tác phẩm của mình, ông đã cố gắng không
lạm dụng cái "tôi - toàn năng". Ông tôn trọng một hiện thực tồn tại ở
đâu đó, một drame hiện hữu, có trước tác phẩm của nhà văn và có một cuộc sống độc lập của riêng nó
mà nhà văn tránh không can thiệp một cách sống sượng, một cách chủ
quan. Đây là điều khiến ông trở thành "khác người", những người cứ muốn
nhà văn phải tỏ thái độ rõ ràng của mình với nhân vật này hay nhân vật
khác, với cách xử thế này hay cách xử thế kia (bao gồm cả người đọc cũng
như nhiều người trong giới phê bình). Những truyện kể nói trên của
Gide, như chúng ta thấy, về mặt hình thức, hoàn toàn được xây dựng theo
kiểu truyền thống, nhưng chứa đựng những nhân tố chuẩn bị cho các thay
đổi lớn trong tiểu thuyết của nhà văn vào giai đoạn tiếp theo.
Trong số những truyện kể của Gide sáng tác vào những năm đầu thế kỷ XX, Những tầng hầm của Vatican(2)
có những đặc điểm riêng biệt. Trước hết, NKC không phải là đại từ nhân
xưng ngôi thứ nhất "tôi" như ba tác phẩm vừa nêu. Nó không phải là câu
chuyện có tính bộc bạch của một nhân vật Michel, Jérôme hay của "ông mục
sư". Nó được kể với một NKC giấu mặt theo một cốt truyện phức tạp hơn,
thể hiện qua năm phần khác nhau của cuốn sách, số lượng nhân vật cũng
nhiều hơn, đa dạng hơn. Quyển thứ nhất: Anthime Armand-Dubois, mang tên của một trong các nhân vật chính quy theo đạo Cơ Đốc. Quyển thứ hai, Julius de Baraglioul, kể về gia đình của nhân vật có một đứa con ngoài giá thú tên là Lafcadio. Quyển thứ ba, Amédée Fleurissoire, kể về vụ tin đồn "Giáo hoàng đã bị bắt giam". Quyển thứ tư, Nghìn chân - tên một băng cướp -, có nhân vật chính là Amédée Fleurissoire. Phần thứ năm, gồm 65 trang sách có tên là Lafcadio
kể tiếp về đoạn đời của cậu thanh niên Lafcadio sau khi nhận họ hàng.
Trong những dòng cuối sách, NKC đề cập đến "một cuốn sách mới" một kết
cục tươi sáng sẽ được kể tiếp tục. Với năm phần riêng biệt, kể về các
nhân vật chính của từng phần kèm theo các nhân vật phụ khác, cốt truyện
của tác phẩm Những tầng hầm của Vatican đã không còn đơn giản, dễ theo dõi như trong ba truyện kể Kẻ vô luân, Cánh cửa hẹp, Khúc nhạc đồng quê. Mỗi
một phần trong tác phẩm có thể được coi là một câu chuyện riêng, đồng
thời các phần lại liên quan với nhau bởi mối quan hệ giữa các nhân vật
chính và phụ. Các cốt truyện đan xen vào nhau khá rối rắm và phức tạp.
Mặc dù tác phẩm được lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thực đăng trên
báo, nhưng sức sáng tạo của tác giả thể hiện qua NKC giấu mặt đã vượt xa
việc "kể lại" một hiện thực nào đó. NKC đã không làm việc của một người
"sao chép" với mục đích đúng như thật. Anh ta để mặc cho sự phức tạp,
rối rắm của hiện thực lôi kéo mình đi. Vậy là tác giả tiếp tục thực hiện
những ý tưởng của mình trong sáng tác đã được ông tâm niệm trong Lời tựa của tác phẩm Kẻ vô luân:
"Nhưng tôi không muốn coi cuốn sách này như một lời lên án hay lời biện
hộ và tôi tránh việc xét đoán". Nhà văn vẫn mong muốn và cố gắng giữ vị
trí khách quan của mình.
Trong Những tầng hầm của Vatican, chúng ta thấy có những điểm chung với các tác phẩm Kẻ vô luân, Cánh cửa hẹp, Khúc nhạc đồng quê
như vẫn còn lưu giữ những đặc tính của tiểu thuyết truyền thống (liên
quan đến cốt truyện và nhân vật) và mang tính tự thuật rõ rệt (hình bóng
của tác giả có thể tìm thấy qua các nhân vật Michel, Jérôme, viên mục
sư, Lafcadio). Mặt khác tác phẩm đặc biệt này chứa trong mình nó những
tìm tòi đổi mới của nhà văn mà một trong những điểm đáng chú ý là việc
xây dựng NKC phức tạp, mang lại cho câu chuyện được kể trong tác phẩm sự
đa dạng sinh động hơn các tiểu thuyết đơn tuyến khác.
Những tìm tòi đổi mới trong tiểu thuyết của A.Gide thể hiện rõ nhất trong tiểu thuyết Bọn làm bạc giả (Les Faux - Monnayeurs).
Ông xuất bản cuốn tiểu thuyết này vào lúc ông 57 tuổi (năm 1926) với
lời đề tặng: "Tôi thân tặng Roger Martin du Gard cuốn tiểu thuyết đầu
tiên của tôi, minh chứng cho một tình bạn sâu sắc".
Trước khi đề cập đến những đổi mới về tiểu thuyết của A.Gide qua nghệ thuật xây dựng NKC trong tác phẩm Bọn làm bạc giả của ông, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu quan niệm mới về tiểu thuyết của nhà văn qua Nhật ký của Bọn làm bạc giả,
công bố một năm sau khi cuốn tiểu thuyết ra đời. Đó là một cuốn sách
viết về nghề văn, chính vì vậy nó được nhà văn tặng cho bạn của ông là
Jacques de Lacretelle và tặng cho "những ai quan tâm đến các vấn đề của
nghề nghiệp".
Dự
định về cuốn tiểu thuyết đang được thai nghén, tác giả viết: "... chắc
chắn sẽ là điên rồ nhóm gộp lại trong một cuốn tiểu thuyết tất cả những
gì cuộc sống bày ra cho tôi và dạy tôi. Thật rậm rạp biết bao cuốn sách
mà tôi mong ước, tôi chỉ nghĩ đến việc cho tất cả vào đó. Thế mà mong
ước ấy vẫn cứ xâm chiếm lấy tôi. Tôi như người nhạc sĩ tìm cách đặt gối
lên nhau, xếp chồng lên nhau, theo cách của César Franck, một motif
thong thả, khoan thai và một motif nhanh, mạnh"(3).
Từ dự định này, tác giả đã mang đến cho bạn đọc một cuốn tiểu thuyết
với sự đan xen của nhiều truyện kể, một cách phức tạp, không dễ theo dõi
như trong các truyện kể đã nhắc tới ở trên.
Trong thực tế, tiểu thuyết Bọn làm bạc giả không
hề giống với những tác phẩm trước đó. A. Gide đã cố ý gọi đó là "cuốn
tiểu thuyết duy nhất" vì nó chứa đựng những suy nghĩ trăn trở, những tìm
tòi đổi mới của ông trong tiểu thuyết. A. Gide từng say sưa đọc rất
nhiều tác phẩm của các nhà văn trong và ngoài nước như Goethe, Balzac,
Stendhal, Tolstoi, Dostoievsky, Ibsen, v.v... từng ấp ủ về một cuốn tiểu
thuyết có nhiều nhân vật, nhiều tình huống phức tạp, nhiều tình tiết
chằng chịt có liên quan đến nhau. Một trong những thay đổi trong nghệ
thuật tiểu thuyết của Gide là nét đặc biệt của NKC.
Theo trật tự của tác phẩm, tiểu thuyết Bọn làm bạc giả có ba phần được kết cấu theo lối vòng tròn:
Phần thứ nhất có tiêu đề là Paris gồm
mười tám chương, mở đầu bằng việc cậu học trò Bernard tình cờ phát hiện
ra bí mật của cuộc đời mình: cậu không phải là con đẻ của cha cậu.
Bernard quyết định bỏ nhà ra đi, cậu vô tình lấy va li của nhà văn
Édouard, ông cậu của Olivier (bạn Bernard), rồi sau đó Bernard trở thành
thư ký giúp việc cho nhà văn Édouard. Song song với câu chuyện về
Bernard, tác giả còn kể cho chúng ta chuyện của Vincent và nhật ký của
nhà văn Édouard (chiếm bốn chương trọn vẹn và một phần lớn của một
chương khác).
Phần thứ hai mang tên Saas-Fée
(tên một vùng miền núi thuộc Thuỵ Sĩ) chỉ gồm bẩy chương (trong đó có
hơn hai chương là nhật ký của Édouard) kể về chuyến đi của Édouard và
Bernard sang Thụy Sỹ đón cháu bé Boris về với ông nội, thể theo nguyện
vọng của ông.
Phần ba cũng có tên là Paris
và cũng có mười tám chương như ở phần thứ nhất (nhật ký của Édouard
chiếm hơn sáu chương). Trong đó, ngoài các câu chuyện được kể qua nhật
ký của Édouard là các câu chuyện liên quan đến ký túc xá Vedel và cái
chết thương tâm của cậu bé Boris. Ở cuối truyện là một kết thúc có hậu:
Olivier thực sự tỉnh mộng và quyết định đi theo ông cậu Édouard, còn
"đứa con lưu lạc" Bernard quyết định trở về nhà và theo tác giả "đó là
điều tốt nhất cậu ta cần làm".
Toàn
bộ các câu chuyện đan xen nhau trong tiểu thuyết đã được trần thuật bởi
ba kiểu NKC khác nhau: NKC ở ngôi thứ ba giấu mặt, NKC đồng thời là
nhân vật chính Édouard, NKC xưng “tôi”. Chiếm 2/3 cuốn tiểu thuyết là
lời kể của NKC giấu mặt. NKC này đã kể với chúng ta về nhiều nhân vật
khác nhau liên quan đồng thời đến nhau và các câu chuyện của họ.
Một trong những điểm độc đáo của tiểu thuyết Bọn làm bạc giả là
sự xuất hiện của NKC đồng thời là nhân vật chính trong tác phẩm: nhà
văn Édouard. A. Gide đã để cho NKC này xuất hiện trong một môi trường
đặc trưng cho nghề nghiệp của ông là giới văn chương (dù mức độ thật
giả, chất lượng có khác nhau): bá tước de Passavant, tác giả của Chiếc xà đơn được "một số nhà phê bình làm rùm beng" và liên quan đến Passavant là tạp chí Tiền phong cùng
một loạt "tác giả" viết hoặc dự định viết cho tờ tạp chí như Olivier,
Dhurmer, Bercail, Armand… Bernard, một trong những nhân vật chính của
tiểu thuyết cũng có sáng tác. Ngoài các tên hư cấu, nhà văn còn đưa vào
tiểu thuyết một tác giả có thực, đó là Alfred Jarry, tác giả của Ubu Vua (trong
cuộc dạ hội của nhóm de Passavant). Trong câu chuyện trao đổi của các
nhân vật, tên nhiều nhà văn Pháp cũng như của nước ngoài đã được nhắc
tới như La Fontaine, Racine, Balzac, Stendhal, Rimbaud, Dostoievsky,
v.v… Rất nhiều vấn đề thuộc văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng
được các nhân vật trong tiểu thuyết đề cập đến.
NKC
nhà văn Édouard đã dùng hình thức nhật ký để kể các câu chuyện của mình
với số trang chiếm gần 1/3 cuốn tiểu thuyết. Như trên đã nêu, tiểu
thuyết Bọn làm bạc giả có ba phần. Trong số 43 chương của cả 3
phần, nhật ký của Édouard chiếm trọn vẹn 12 chương cộng thêm các phần
trong 4 chương khác. Chỉ một phần nhỏ trong nhật ký là được viết trước
thời điểm xảy ra các câu chuyện được kể trong tiểu thuyết, còn phần lớn
nhật ký kể những chuyện vừa mới xảy ra hoặc gần như đồng thời với lúc
người viết viết nhật ký. Điểm này rõ ràng đã mang lại sự tươi mới, sinh
động và tính hiện đại của những câu chuyện kể. Ngoài việc nhật ký cung
cấp cho bạn đọc rất nhiều thông tin, nhiều tuyến truyện xen kẽ, bản thân
việc trình bày hình thức nhật ký trong tiểu thuyết cũng tạo nên sự đa
dạng và phong phú: có thể chiếm trọn cả chương, có thể kéo dài liên tiếp
chiếm vài chương liên tục (các chương XI,XII,XIII ở Phần thứ nhất và các chương I,II,III ở Phần thứ ba),
cũng có thể là các đoạn xen kẽ với giọng kể của NKC giấu mặt, hoặc xen
lẫn với thư, với cả một số dòng trong tiểu thuyết của chính Édouard.
Với hình thức nhật ký, NKC Édouard đã cung cấp cho người đọc các chi tiết liên quan đến chuyện
của các nhân vật trong tiểu thuyết. Trước hết là về Laura, người ông
quan tâm đến đầu tiên khi trở về Pháp cùng với tất cả các éo le trong
cuộc đời của cô (lấy một người chồng mà cô không yêu, rồi do tình cờ
quen Vincent trong bệnh viện và có thai với Vincent, bị anh ta bỏ rơi,
rồi cuối cùng nhờ sự giúp đỡ chân tình của Édouard, cô lại quay trở về
với chồng mình). Cũng qua nhật ký của Édouard, người đọc được biết thêm
các câu chuyện về Bernard, Olivier và gia đình của Olivier (bố mẹ, ông
bà Molinier, anh trai Vincent, em trai Georges), Passavant và các "cộng
tác viên" của tạp chí Tiền phong, chuyện của cụ La Pérouse, v.v… Nó tạo thêm một giọng điệu bổ sung
cho các câu chuyện do người kể chuyện giấu mặt thuật lại. Ví dụ, NKC
giấu mặt đã kể khá nhiều sự kiện liên quan đến Olivier (từ chuyện biết
tin Bernard sẽ bỏ nhà đi hoang, mời Bernard đến nhà mình ngủ tạm, kể
chuyện rắc rối của anh trai Vincent cho Bernard nghe, đi đón ông cậu
Édouard ở nhà ga, hợp tác với Passavant, thất vọng vì bản thân, tự tử
không thành, v.v…), còn trong nhật kí của Édouard, người đọc lại được
biết thêm tình cảm khá đặc biệt của hai cậu cháu, chủ yếu là những cảm
xúc của Édouard với Olivier. Tình hình ngược lại với những câu chuyện về
cụ La Pérouse: nếu như nhờ NKC giấu mặt, người đọc chỉ biết tình hình
khốn khổ của cụ ở kí túc xá qua một câu ở gần cuối tiểu thuyết, thì nhật
kí của Édouard lại cung cấp nhiều thông tin, sự kiện liên quan đến cuộc
đời cụ, một sự bổ sung rất chi tiết và cụ thể (từ vụ quan hệ riêng tư
của con trai khiến cụ mất hết cả học trò đồng nghĩa với mất nguồn thu
nhập, đến những xích mích thường ngày của đôi vợ chồng già, sự quan tâm
không được đền đáp đối với đứa cháu nội, cuối cùng là bi kịch thực sự
xảy ra khi đứa cháu nội bị chết từ viên đạn của khẩu súng của chính
cụ…).
Édouard
đã làm mọi người bất ngờ là tiểu thuyết của ông, một cuốn sách quan
trọng "đáng để đời" sau bao trăn trở, suy nghĩ, lại không có đề tài.
Trong cuộc nói chuyện với bà bác sĩ Sophroniska, Laura và Bernard, ông
khẳng định: "Tiểu thuyết của tôi không có đề tài". Ngay sau đó, ông giải
thích quan điểm của mình là muốn nghe theo tất cả những gì từ cuộc sống
của những người khác và cuộc sống của bản thân ông mách bảo cho mình.
Ông không sao chép hiện thực, không phản ánh hiện thực, ông nghe theo
hiện thực và đối thoại với nó. Ông phê phán tiểu thuyết Pháp và cho rằng
tiểu thuyết Anh, Nga "thoát khỏi sự câu thúc là thế, vẫn phải lệ thuộc
vào thước đo giống như thật". Để rõ hơn ý mình, hơn một lần Édouard
khẳng định với cử toạ: "… và đề tài của cuốn sách, nếu các bạn muốn,
chính là cuộc đấu tranh giữa những gì thực tại mang đến cho anh ta (nhân
vật nhà tiểu thuyết trong cuốn sách - LPT thêm) và những gì mà bản thân
anh ta có ý định làm từ thực tại đó" (BLBG, tr.239). Và: "Nói cho đúng ra, đó sẽ là đề tài: cuộc tranh đấu giữa các sự kiện do thực tế khơi gợi ra và thực tế lý tưởng" (BLBG, tr.40).
Trong
nhật ký của mình, Édouard nói rõ hơn về chuyện đề tài: "Mình bắt đầu
thấy cái có thể gọi là "đề tài sâu xa" của cuốn sách. Chắc chắn đó sẽ là
sự đua tranh giữa thế giới hiện thực và sự thể hiện thực tế của chúng
ta". Từ quan niệm liên quan đến đề tài của tiểu thuyết, Édouard đã thực
sự quan tâm đến một vấn đề quan trọng trong sáng tạo, đó là quan hệ giữa
hiện thực và việc sáng tác của nhà tiểu thuyết. Đây cũng là chỗ để nhà
văn A. Gide thông qua nhân vật trung tâm đồng thời là NKC trong tác phẩm
nói lên những điều tâm huyết của mình. Rõ ràng, ông không có ý định
gánh trách nhiệm làm "thư ký của thời đại" trung thành với các sự kiện
của hiện thực như Balzac. Trong Ghi chép về A. Gide, nhà văn cùng
thời và là "đàn em" của A. Gide, Martin du Gard đã cung cấp cho chúng
ta những thông tin thú vị liên quan đến quan niệm của A. Gide về tiểu
thuyết như chúng ta đã biết ở phần trên. Trong cuộc nói chuyện của hai
người liên quan đến tiểu thuyết, Gide đã khẳng định tuy rất ngưỡng mộ
Tolstoi, nhưng A. Gide là người đứng về phía của Dostoievsky, người luôn
khiến cho A. Gide kinh ngạc bởi những “cái mới, cái không ngờ tới, cái
chưa từng thấy!”.
NKC nhà văn Édouard xuất hiện trong tiểu thuyết Bọn làm bạc giả đã
khiến người đọc liên tưởng nhiều đến chính tác giả A. Gide cùng các
quan niệm, các ý kiến của ông về nghề văn, nhưng tất nhiên, Édouard
không phải và không thể là một bản sao trùng khít của nhà văn, vì đó
không phải là mục tiêu hướng tới của ông. Sự sáng tạo của nhà văn trong
việc xây dựng một NKC đặc biệt rõ ràng đã mang lại sắc thái độc đáo cho
tác phẩm.
Michel
Raimond cho rằng: "… vào khoảng năm 1930, phần lớn các tiểu thuyết Pháp
vẫn được thể hiện như "một truyện kể bằng văn xuôi xen lẫn đối thoại"
như Julien Green đã viết. Việc sử dụng những kỹ thuật mới của độc thoại
nội tâm và điểm nhìn chỉ là ngoại lệ. Crémieux và Vogt, vào năm 1930,
trong một cuộc hội thảo đã nhận xét rằng những hình thức tiểu thuyết đã
không hề phát triển. Thế nhưng họ lại dành một vị trí đặc biệt cho tác
phẩm Bọn làm bạc giả của André Gide, vì họ cho rằng tiểu thuyết
này là sự tổng hợp hài hoà của tất cả các hình thức đã biết cho đến lúc
ấy (…) đó là một tác phẩm đặc biệt phong phú ở nhiều điểm nhìn và nó
tiêu biểu cho một thời kỳ của những tranh luận và tìm kiếm"(4).
Như
chúng ta đã biết, lâu nay, vấn đề điểm nhìn trong tiểu thuyết đã được
nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và cho đó là một trong những
vấn đề đáng kể khi bàn về những cuộc tìm tòi đổi mới của tiểu thuyết(5).
GS. Phùng Văn Tửu, trong công trình của mình đã xác định "điểm nhìn" ở
đây với nghĩa "thuần tuý chỉ muốn xét về mặt kỹ thuật chọn chỗ đứng để
nhìn và kể, chứ không bao hàm ý quan điểm tư tưởng, chính trị, xã hội
của người kể"(6). Tiểu thuyết Bọn làm bạc giả của
A. Gide được Giáo sư nhắc tới khá kỹ khi đề cập đến các vấn đề "tiểu
thuyết là đề tài của tiểu thuyết" và "tiểu thuyết trong tiểu thuyết".
Ông khẳng định tác phẩm Bọn làm bạc giả đã vượt qua "chuẩn mực"
một điểm nhìn của tiểu thuyết truyền thống và cho rằng việc tăng thêm
điểm nhìn trong cuốn tiểu thuyết đã khiến "câu chuyện kể trở nên sinh
động hơn".
A. Gide luôn quan tâm đến tính khách quan của tác giả trong quá trình sáng tác. Điều đó đã thể hiện từ thời kỳ ông sáng tác Kẻ vô luân và đã khẳng định quan điểm của mình qua Lời tựa như
chúng ta đã biết. Chính điều đó đã giúp ông tránh được đường mòn của
tiểu thuyết truyền thống thường có một điểm nhìn. Việc làm đa dạng các
điểm nhìn trong tiểu thuyết đã giúp độc giả nhận ra sự phong phú và phức
tạp được thể hiện qua tác phẩm. Trong Bọn làm bạc giả ngoài điểm
nhìn của NKC giấu mặt, các câu chuyện các vấn đề chồng chéo nhau một
cách sống động còn được thể hiện qua điểm nhìn của NKC nhân vật chính
Édouard (chính xác hơn là qua nhật ký của Édouard) như chúng ta đã thấy ở
trên.
Thêm
vào đó còn là điểm nhìn của NKC ngôi thứ nhất xưng "tôi" (Je) hoặc
“chúng tôi” (nous) trực tiếp trong tác phẩm. Khảo sát cụ thể Phần thứ nhất của tiểu thuyết Bọn làm bạc giả, chúng
ta thấy số lần lộ diện của NKC xưng “tôi” hoặc “chúng tôi” là khá
nhiều: toàn bộ phần này chiếm 213 trang, trong đó nhật kí của Édouard đã
gồm 70 trang. Như vậy, trong số 143 trang về cơ bản là lời kể của NKC
giấu mặt (vì còn phải tính tới vài trang thư từ và lời đề từ ở đầu một
số chương) NKC ở ngôi thứ nhất đã xuất hiện 18 lần (ở các trang 15, 34,
35, 49, 50, 57, 70, 72, 91, 100, 149, 166, 182-183-184-185, 191, 199).
NKC ngôi thứ nhất có mặt trong chuyện kể (ở cả ba phần trong tiểu
thuyết) không chỉ để tỏ thái độ của mình trước sự việc, sự kiện qua các
câu như “Tôi tin rằng…”, Tôi cho rằng…”, “Tôi đã bảo rằng…”, “Tôi không dám nói…”, “Tôi hơi khó chịu…”, “điều kinh khủng nhất theo tôi…”,
v.v… Rất nhiều lúc, NKC kiểu này đã trực tiếp tham gia vào sự việc đang
diễn ra, lúc thì nói thẳng việc dõi theo các nhân vật, lúc lại bỏ mặc
họ để trả lại mạch chuyện cho NKC giấu mặt. Đó là chưa kể có những lúc
NKC ở ngôi thứ nhất sa đà thực sự vào câu chuyện kể và lời của NKC này
chiếm tới vài trang liền (các trang 183-185). Đặc biệt, ở mục VII, mục
cuối cùng của Phần thứ hai, chúng ta gặp duy nhất một lần nhân
vật “người đi đường” (voyageur) được ví với tác giả (auteur), người
không biết trước được câu chuyện của mình sẽ dẫn tới đâu. Đó không phải
một tác giả “biết tuốt”, như một Chúa Trời điều khiển mọi việc trong
tiểu thuyết truyền thống, mà là một tác giả hướng tới sự đổi mới mong
muốn có những sự cách tân trong sáng tạo. Đến nỗi, không dằn lòng được,
“tôi” đã chiếm diễn đàn của tiểu thuyết trong 4,5 trang liền để trút bầu
tâm sự về các nhân vật của mình (các trang 280-284): “tôi” bực mình,
không hài lòng với Édouard, “tôi” phân vân và có phần tin cậy ở Bernard,
“tôi” lo lắng cho Olivier, v.v… Khó có thể nói rằng lúc nào việc “tôi”
can thiệp thẳng vào mạch chuyện cũng làm cho người đọc thích thú, nhất
là đối với người đọc sống sau tác giả của Bọn làm bạc giả đến gần
cả thế kỉ. Nhưng chúng ta hãy đặt tác phẩm này vào thời điểm ra đời của
nó khi cái “tôi” toàn tri vẫn ngự trị khắp nơi. Tiểu thuyết của Gide
đổi mới, nhưng vẫn gắn phần nào vào mạch truyền thống. Đó là một điều
hợp lẽ trong thời của ông. Mặt khác, khi đặt điểm nhìn ở ngôi thứ nhất
này vào hệ thống chung rõ ràng nó đã đem lại sự đa dạng khi tiếp cận vấn
đề.
Tiểu
thuyết Pháp vào khoảng ba thập niên đầu thế kỉ XX đã có những chuyển
động nhất định, thể hiện rõ nhất ở các cuộc hội thảo, nhưng nhìn chung,
các nhà tiểu thuyết Pháp vẫn tỏ ra khá dè dặt và thận trọng trong việc
cách tân. Vì vậy, bên cạnh việc xuất hiện tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất của Proust, tiểu thuyết Bọn làm bạc giả
của Gide thực sự gây xôn xao trong giới văn chương thời đó. Chúng tôi
xin trích dưới đây ý kiến của một số bài báo viết năm 1926, thời điểm
tác phẩm ra đời, được đăng lại trên Tạp chí Những người bạn của André Gide:
“Tiểu thuyết của ngài André Gide luôn được chờ đón như một tác phẩm giá
trị và quan trọng: đó là sự thú vị bất ngờ với bạn đọc và một tài sản
đối với các nhà phê bình. Cuốn Bọn làm bạc giả mới công bố một nửa trên Tạp chí Pháp Mới đã gây chú ý rất nhiều"(7). “Trong Bọn làm bạc giả,
tác giả đã lần đầu tiên tập hợp những cái “tôi" khác nhau của mình
trong một tác phẩm; ông đã hiến mình trọn vẹn trong cuốn tiểu thuyết"(8).
Thời điểm sáng tác Bọn làm bạc giả,
đã gần đến ngưỡng 60 tuổi, Gide vẫn say sưa với cái mới, tiểu thuyết
của ông vẫn tràn trề sức trẻ, với sự hăng say, bởi giọng điệu nổi loạn,
bởi lòng hăng hái tiến lên phía trước. Vẫn gắn bó với truyền thống, ông
đồng thời dám chấp nhận các cuộc phiêu lưu, tìm đến những vùng đất mới:
“Gide là nơi gặp gỡ của hai quan niệm văn học, quan niệm truyền thống
đặt lên trên hết hạnh phúc sáng tạo ra các kiệt tác, và quan niệm văn
học như cuộc thử nghiệm coi thường các tác phẩm và sẵn sàng chịu thất
bại miễn là đạt tới điều không thể. Chính từ đó tạo ra số phận đúp của
ông"(9).
Chỉ với một cuốn tiểu thuyết duy nhất trong cuộc đời sáng tác, nhà văn
đã đánh dấu mốc thành công trong sự nghiệp của riêng mình và trong lộ
trình phát triển chung của tiểu thuyết phương Tây hiện đại. Ông xứng
đáng với những lời ngợi ca của những người cùng nghiệp cầm bút như ông.
Nếu như A. Camus thừa nhận: “Gide ngự trị trong thời thanh niên của tôi…
Gide đối với tôi như một kiểu mẫu nghệ sĩ, người bảo vệ, con của vua
chúa, người canh giữ ở các cánh cửa của khu vườn nơi tôi muốn sống ở đó"(10) thì John Steinbeck khẳng định: “Bọn làm bạc giả là một trong những cuốn sách hay nhất mà tôi đã từng đọc. Đơn giản là Gide đã biết viết, trí tuệ của ông biết bùng nổ"(11), và: “... Bọn làm bạc giả,
cuốn tiểu thuyết ấy đã thể hiện một lần nữa, và mãi mãi, một cách chắc
chắn, là một đỉnh cao trong sự nghiệp của ông, cuốn tiểu thuyết giá trị
nhất, sâu sắc nhất đã đem lại cho chúng ta trí tuệ thuần khiết và sâu
sắc của nó”(12).
____________
(12) Klaus Mann: André Gide và sự khủng hoảng của tư duy hiện đại, Grasset, Paris, 1999, tr.201.
Nguồn: Viện văn học (Lộc Phương Thủy)