Trong cuộc hành trình gia nhập vào quỹ đạo văn học thế giới, văn học Việt Nam mang theo bên mình một thứ hành trang quý giá – những tác phẩm của đại văn hào Nga L.Tolstoi. Sáng tác của ông đã đóng góp không nhỏ cho sự hình thành và phát triển nền văn học hiện đại Việt Nam qua mọi chặng đường của thế kỉ XX.
Trong cuộc hành trình gia nhập vào quỹ đạo văn học thế giới, văn học Việt Nam mang theo bên mình một thứ hành trang quý giá – những tác phẩm của đại văn hào Nga L.Tolstoi. Sáng tác của ông đã đóng góp không nhỏ cho sự hình thành và phát triển nền văn học hiện đại Việt Nam qua mọi chặng đường của thế kỉ XX. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một số nét cơ bản bức tranh dịch thuật các tác phẩm của L. Tolstoi, tình hình nghiên cứu và sự tiếp nhận sáng tác của nhà văn ở Việt Nam từ giai doạn 1954 đến này.
1. Bức tranh dịch thuật
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, qua cửa ngõ phương Tây (chủ yếu là văn học Pháp), giới trí thức Việt Nam đã biết đến tên tuổi L. Tolstoi. Ông là một trong số các nhà văn cổ điển Nga có tác phẩm được chuyển ngữ sang tiếng Việt từ rất sớm. Bản dịch Phục sinh có từ năm 1927 trên báo Tiếng dân, đánh dấu sự xuất hiện tác phẩm văn xuôi Nga đầu tiên ở Việt Nam. Tiếp đó, Anna Karenina (với tên An Na Kha Lệ Ninh) được đăng trên Tạp chí Pháp - Việt ở Hà Nội và báo Tràng An ở Huế năm 1937. Vũ Ngọc Phan, người dịch tác phẩm này, đã thấy đây là một kiệt tác, “làm cho người đọc dù ở phương Tây hay phương Đông đều thông cảm và say sưa”.
Sau năm 1954, trước khi bốn tập Chiến tranh và hoà bình được xuất bản ở miền Bắc Việt Nam (năm 1961 – 1962), Tạp chí Văn nghệ số 11 – 1960 đã đăng trích đoạn Napôlêông trước Matxcơva. Đoạn trích gợi cho người đọc Việt Nam về một thời kì lịch sử không xa, về cuộc rút lui bi tráng, bỏ lại Hà Nội sau 60 ngày đêm khói lửa, về tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của Trung đoàn Thủ đô, về cuộc kháng chiến trường kì ác liệt của toàn dân tộc để làm nên một Điện Biên “chấn động địa cầu”.
Đầu những năm 60 của thế kỉ XX, ngay sau khi NXB Văn hóa triển khai kế hoạch dịch, giới thiệu tinh hoa văn học thế giới, thiên tiểu thuyết sử thi đồ sộ Chiến tranh và hòa bình do Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Hoàng Thiếu Sơn, Trường Xuyên dịch đã ra mắt bạn đọc miền Bắc. Những dịch giả này đều đồng thời là những nhà nghiên cứu hiểu biết rộng, tinh thông nhiều ngoại ngữ. Họ đã đối chiếu, tham khảo bản dịch tiếng Trung, tiếng Anh, đặc biệt là bản tiếng Pháp của Henri Mongault (bản dịch được đánh giá là tốt nhất thời kì đó). Lúc đầu không phải toàn bộ tác phẩm Chiến tranh và hoà bình đều được dịch thẳng từ tiếng Nga. Đến lần tái bản năm 1976 – 1977, Cao Xuân Hạo mới căn cứ vào nguyên bản tiếng Nga hiệu đính lại toàn bộ bản dịch. Theo giới chuyên môn, Chiến tranh và hòa bình là một trong những bản dịch công phu và thành công, xứng đáng được ghi nhận như mốc son trong lịch sử dịch văn học Nga ở Việt Nam.
Bên cạnh Chiến tranh và hoà bình, những bản dịch Anna Karenina, Phục sinh của NXB Văn học cũng được đông đảo bạn đọc Việt Nam yêu thích, hâm mộ. Năm 1963 – 1964, Nhị Ca và Dương Tường chuyển ngữ Anna Karênina gồm ba tập, tập 1 (1963), tập 2, tập 3 (1964), dựa theo bản Pháp văn của Sylvie Luneau (NXB Fernand Hazan, Paris 1949), có tham khảo hai bản Nga văn và Trung văn. Những năm 70, Phùng Uông, Nguyễn Nam, Ngọc Ân, Mộc Nghĩa hoàn thành bản dịch tiểu thuyết Phục sinh từ nguyên bản tiếng Nga, có tham khảo bản dịch Pháp văn của E. Beaux, E. H. Kaninski, T. de Wgewa Anh văn của L. Maude và L. Kolesnike Hoa văn (Phục hoạt) của Nhữ Long. Lúc đầu, bản dịch có tên là Sống lại (NXB Văn học, 1970), các lần in sau đổi là Phục sinh. Việc thay đổi như vậy là hợp lí, bao quát được ý nghĩa tác phẩm: vừa tái hiện “quá trình sống lại” của con người, vừa ghi lại một thời điểm tạo nên bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật chính – đêm lễ Phục sinh là đêm xảy ra câu chuyện bi thảm giữa Nekhliudov và Maslova. Nhà nghiên cứu Lê Sơn, người chứng kiến cách làm việc nghiêm túc của nhóm dịch giả, cho biết: nếu Tolstoi đã bỏ ra mười năm để hoàn thành cuốn sách thì các dịch giả cũng tốn một khoảng thời gian tương tự để tác phẩm có thể ra mắt công chúng Việt Nam trong lần xuất bản đầu tiên.
Ngoài ra, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp đã cho dịch và in roneo một số truyện ngắn của Tolstoi: Những mẩu chuyện Xêvaxtôpôn, Buổi sáng của một trang chủ, Cha Xecghi, Cái chết của Ivan Ilich…
Có thể nói L. Tolstoi đã đến với độc giả miền Bắc trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước của Việt Nam đang diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt. Sự gắn bó của những số phận lịch sử khiến bạn đọc Việt Nam tìm thấy ở tác phẩm Tolstoi những tâm hồn đồng điệu. Những người lính mang trong ba lô di sản tinh thần của Tolstoi, chuyền tay nhau tác phẩm của ông trong những giờ phút nghỉ ngơi trên chiến hào. Nhà văn Nguyễn Minh Châu không sao quên được sự kiện đọc L. Tolstoi của anh em thương binh ngay giữa mặt trận Khe Sanh đầu năm 1968: thương binh thì đông mà Chiến tranh và hoà bình chỉ có một bộ nên phải tháo rời từng tay sách… Hầu như những người lính trẻ đã quên khuấy vết thương, chỉ bàn về các nhân vật trong tác phẩm. Phải chăng Tolstoi – nhà văn mà có khi người ta ví với tạo hoá – “đã đạt tới mối giao hoà nào đấy đến mức độ bí ẩn với cái tâm hồn Nga, đã đi đến kiệt cùng những giá trị tinh thần đẹp đẽ của dân tộc mình, nên đã bắt gặp được tâm hồn những con người bình thường nhất của các dân tộc khác” (1). L. Tolstoi và các tác phẩm của ông đã đi vào trái tim của độc giả Việt Nam, thành người bạn tâm tình của nhiều thế hệ bạn đọc.
Cũng thời kì này, ở miền Nam Việt Nam, cùng với Dostoievski, L. Tolstoi thuộc số các tác giả cổ điển Nga có đầu sách dịch vượt trội. Hầu hết các tác phẩm chính của ông đều được chuyển dịch sang tiếng Việt, không ít trong số đó trước năm 1975 chưa được ra mắt bạn đọc miền Bắc. Cuối những năm 50, độc giả miền Nam làm quen với Tolstoi khi trên Tạp chí Văn hoá ngày nay, Bách khoa giới thiệu tác phẩm Một bản đàn, Cái chết của An-Đễ, Tâm trạng một thương binh (trích Chiến tranh và hoà bình), Hạnh phúc gia đình (NXB Phương Giang 1957), Tình nghĩa vợ chồng (NXB Phương Giang 1958).
Những năm 60 xuất hiện các bản dịch : Cái chết của Ivan Ilich (Vũ Đình Lưu dịch, NXB Thời Mới 1963), truyện ngắn Số đất cần cho con người (Nguyễn Vạng Hộ dịch, Tạp chí Bách khoa số 172 năm 1964), truyện Ba người thánh thiện (Nguyễn Kim Phượng dịch, Tạp chí Bách khoa số 240 năm 1967), truyện Ba cái chết, Các cô bé khôn hơn người lớn, Người ta sống bởi gì?, Cái xấu cám dỗ, nhưng cái tốt tồn tại, Việc làm, sự chết và bệnh tật, Thiện ác đáo đầu (Nguyễn Kim Phượng và Lạc Nhân dịch, Tạp chí Văn số 128 năm 1969).
Đặc biệt năm 1969, ở Sài Gòn xuất hiện hai bản dịch Chiến tranh và hoà bình. Một của Nguyễn Đan Tâm (dựa trên bản dịch rút ngắn của Manel Komroff, trong đó bỏ một số chương Tolstoi bàn về tôn giáo, triết lí chiến tranh và lịch sử) do NXB Miền Nam công bố. Bản dịch khác (trọn bộ 4 tập) của Nguyễn Hiến Lê, NXB Lá Bối ấn hành. Nhân dịp này, Tạp chí Văn đã ra số đặc biệt để “độc giả của Văn – những bạn ưa thích văn học dịch làm quen với Tolstoi, biết tới sự xuất hiện của một tác phẩm cổ điển giá trị, đã từng được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng, phổ biến khắp hoàn cầu”(2). Trong hồi kí Đời viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê cho biết: cuối năm 1966, ông bắt tay dịch Chiến tranh và hoà bình, tác phẩm mà theo ông, hàng trăm năm sau người ta vẫn đọc “mà khóc mà cười, mà yêu đời hơn và hiểu đời hơn”. Ông nóng lòng vì sự chậm trễ việc chuyển ngữ tác phẩm sang tiếng Việt, “đi sau Trung Hoa một phần tư thế kỉ”, chậm hơn miền Bắc cả một thập niên. Về quan điểm dịch, Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Chiến tranh và hoà bình là tác phẩm bất hủ của nhân loại cho nên chúng tôi dịch trọn, không bỏ một hàng nào và theo sát lối hành văn của tác giả” (3). Nguyễn Hiến Lê có tham khảo bản dịch của NXB Văn hoá, Hà Nội, công phu đối chiếu nhiều bản dịch, gia công viết lời giới thiệu tác phẩm và lập bảng tra cứu mối quan hệ giữa các nhân vật.
Những năm 70, trong cơn lũ sách dịch, tác phẩm của Tolstoi liên tục xuất hiện: Đời tôi (gồm 2 truyện vừa Đời tôi, Dũng sĩ miền núi), Vũ Minh Thiều dịch, NXB Khai Trí 1970, 1971, 1972; Khúc nhạc mê li (Nguyễn Văn Điền dịch, NXB Đất Sống, 1973); Vùng đất hồi sinh (Nguyễn Đan Tâm và Vũ Kim Thư dịch, NXB Phù Sa, 1973); Tình trong chiến hào ( Hoàng Hải Thủy dịch, NXB Đất Mới 1973). Ngoài ra, tập truyện ngắn quốc tế Tử thần chờ đợi (Xuân Hoàng tuyển dịch, NXB Tự Lực, 1974), in đoạn trích Cái chết của Ivan Ilich. Tập 1001 truyện ngắn hay nhất thế giới (Nguyên Hùng tuyển dịch, NXB Sống Mới, 1970) in truyện Lạc giữa đồng tuyết (Ông chủ và người làm). Có bản dịch vừa xuất bản đã có tiếp một bản dịch khác, chẳng hạn: Những người Kodac của Tolstoi do Nguyễn Trọng Đạt dịch (NXB Trí Đăng, 1970) với nhan đề Sơn lâm êm đềm, đến năm 1973, NXB Đất Sống giới thiệu bản dịch của Mặc Đỗ dưới một nhan đề khác: Vùng đất hoang vu…
Tần số xuất hiện các bản dịch tác phẩm Tolstoi ở miền Nam vào những năm 60 và đầu những năm 70 có nhiều nguyên nhân. Đây là thời kì chính quyền Sài Gòn đang cố sức du nhập sự đa nguyên về tư tưởng để quảng bá cho “chế độ tự do” của Việt Nam Cộng hòa. Việc du nhập sự đa nguyên, “tự do” về tư tưởng ấy được triển khai rất rộng rãi ở hoạt động dịch thuật. Trong đống hỗn độn những văn hóa phẩm của gần 150 nhà xuất bản, có nhiều tác phẩm là tinh hoa văn học thế giới, trong đó có tác phẩm của Tolstoi. Một điểm nữa cần lưu ý là các nhà xuất bản ở Sài Gòn mang tính chất tư nhân, kinh doanh cạnh tranh. Bị chi phối bởi quy luật kinh tế thị trường nghiệt ngã, các nhà xuất bản luôn và buộc phải chú ý thị hiếu bạn đọc. Tác phẩm có người hâm mộ, bán chạy, các nhà xuất bản mới in sách. Nhiều hiện tượng văn học trở thành “mốt” thời thượng như tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, tiểu thuyết tình cảm Quỳnh Dao… thu hút đông đảo độc giả. Việc chọn dịch tác phẩm của nhà văn tầm cỡ thế giới như L. Tolstoi không ngoài mục đích vừa đáp ứng nhu cầu độc giả, vừa trông mong thành công lợi nhuận. Tình trạng nhiều nhà xuất bản cùng đổ xô dịch tác phẩm của Tolstoi là điều dễ hiểu. Cũng có trường hợp, chẳng hạn NXB Lá Bối in tác phẩm của Tolstoi để “như muốn ghi nhận mối tha thiết của L. Tolstoi đến đạo Phật và ghi nhận sự đồng điệu giữa trường phái Tolstoi, chủ nghĩa bất bạo động của Tolstoi với thuyết Phật giáo”(4).
Có thể nói, những bản dịch tác phẩm L. Tolstoi tại miền Nam trước 1975 đã góp phần giới thiệu sáng tác của cây bút văn xuôi cổ điển Nga. Bên cạnh một số bản dịch thành công như Chiến tranh và hoà bình của Nguyễn Hiến Lê thì chất lượng nhiều bản dịch cần được đánh giá lại. Hầu hết các bản dịch đều được dịch qua ngôn ngữ trung gian (tiếng Anh, tiếng Pháp), không có sự đối chiếu với bản tiếng Nga. Hơn nữa, sự phát triển như thác chảy về mặt số lượng các bản dịch, tất nhiên không thể song hành cùng việc đảm bảo chất lượng của chúng. N. Nikulin nhận xét: “Dù chỉ mới xem sơ qua một số bản dịch, cũng đã có một ấn tượng đáng buồn. Ví dụ, lật bản dịch Phục sinh của Tolstoi do NXB Phù Sa của Sài Gòn in năm 1973, ta sẽ thấy ngay sự nghèo nàn về ngôn từ, sự thiếu chính xác, không tương xứng về văn phong. Người dịch đã dịch từng chữ, nên đã chia nhỏ những “trường đoạn” ngôn ngữ nổi tiếng của Tolstoi thành những câu ngắn nát vụn”(5). Ngoài ra, có hiện tượng một số dịch giả miền Nam tuỳ tiện thay đổi nhan đề tác phẩm. Chẳng hạn : Phục sinh thành Vùng đất hồi sinh, Những mẩu chuyện Sevastopol thành Tình trong chiến hào, Những người Kodac thành Sơn lâm êm đềm, Cái chết của Ivan Ilich thành Tử thần chờ đợi.… Sự thay đổi nhan đề như vậy phản ánh phần nào cách hiểu nội dung tư tưởng và hướng tiếp cận tác phẩm của dịch giả nhưng cũng gây khó khăn cho người đọc trong việc truy tìm tên gốc tác phẩm từ nguyên bản.
Sau chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất, chấm dứt tình trạng hai miền tồn tại hai nền văn học riêng biệt. Đây là thuận lợi lớn cho sự phát triển văn học, bao gồm cả việc tạo ra một lực lượng công chúng độc giả thống nhất về phương diện xã hội – chính trị. Trong điều kiện đất nước hòa bình, nhu cầu văn hoá tinh thần đối với các tầng lớp nhân dân rất lớn; việc giao lưu quốc tế, tiếp nhận những luồng gió mới, những tri thức và hiểu biết mới được đặt ra cấp thiết.
Đáp ứng nhu cầu bạn đọc rộng rãi trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh phía Nam, NXB Văn học tái bản bộ Chiến tranh và hòa bình (tập 1,2: năm 1976; tập 3,4: năm 1979) với số lượng lớn (20.200 cuốn mỗi tập), gấp nhiều lần so với lần xuất bản đầu tiên (1.500 cuốn mỗi tập); Anna Karênina (1978) cũng với số lượng tương tự; tiếp đó là Phục sinh (1993). Một số bản dịch có chất lượng, phát hành ở miền Nam trước 1975 được tái bản.
Tập truyện chọn lọc của L. Tolstoi do Nguyễn Hải Hà, Thúy Toàn dịch được NXB Văn học ấn hành năm 1984. Với tập truyện này, L. Tolstoi không chỉ là tác giả của những thiên tiểu thuyết đồ sộ nổi tiếng toàn thế giới mà còn là bậc thầy tài nghệ vô song của những tác phẩm “nho nhỏ”- các truyện vừa và truyện ngắn: Những mẩu chuyện Xêvaxtôpôn, Buổi sáng của một trang chủ, Cái chết của Ivan Ilich, Luyxec, Đức cha Xecghi, Sau đêm vũ hội, Khatgi Murat…
Đầu những năm 90, sau khi Liên xô và Đông Âu sụp đổ, hào quang của văn hóa Nga bị mờ nhạt, sức mạnh của văn hóa Nga như chựng lại. Ảnh hưởng văn hóa phương Tây tràn vào Việt Nam ở nhiều mặt, bằng nhiều con đường. Điều này có phần do chính sách văn hóa đối ngoại cởi mở hơn, chế độ xuất bản thoáng hơn và những phương tiện in ấn hiện đại phổ biến hơn. Do sự tác động của nhiều khuynh hướng văn học thế giới, tâm lí và thị hiếu công chúng cũng thay đổi, người ta có vẻ chú trọng văn học Mĩ, văn học phương Tây nhiều hơn, thích hợp với đời sống hiện đại hơn. Kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn học dịch. Người ta gần như xao nhãng dịch văn học Nga mà hướng tới sách đại chúng ăn khách của phương Tây. Các tác phẩm văn học Nga chủ yếu là tái bản, ít xuất hiện những bản dịch mới. Về Tolstoi, chỉ có tác phẩm Thời thơ ấu (Nguyễn Thụy Ứng dịch, NXB Văn học 2001), Bản xonat Kreuzer (Trần Thị Phương Phương dịch, NXB Trẻ 2000), Kịch của L. Tônxtôi (Nguyễn Hải Hà dịch, NXB Giáo dục 2010) cũng chỉ kịp ra mắt bạn đọc trước thềm Kỉ niệm 100 năm ngày mất của đại văn hào Nga. Phần quan trọng trong di sản của Tolstoi - nhà tư tưởng hầu như được giới thiệu ngoài bản dịch Tự thú (Đỗ Tư Nghĩa dịch, NXB Văn hóa Sài Gòn 2007).
Trong những năm gần đây, văn hóa Nga được phục sinh và có chiều hướng phát triển tích cực ngay tại chính nước Nga. Quan hệ và giao lưu kinh tế, xã hội, văn hóa giữa hai quốc gia thân thiện Nga và Việt cũng có bước phát triển mới. Đây chắc chắn là cánh đồng phù sa màu mỡ cho văn hóa Nga, trong đó có những tác phẩm của L. Tolstoi, tiếp tục có thêm cuộc sống mới ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu, phê bình
Trước năm 1954, tên tuổi của Tolstoi đã xuất hiện trên một số bài phê bình, khảo cứu của Hải Triều, Nhất Linh, Thạch Lam.... L. Tolstoi là chỗ dựa tin cậy về quan điểm nghệ thuật, cách viết tiểu thuyết, miêu tả tâm lí nhân vật trong các cuộc tranh luận văn chương bấy giờ. Các nhà văn cổ điển Nga luôn là hình mẫu lí tưởng để các nhà văn Việt Nam noi theo. Bao trùm lên hầu hết các bài viết của các nhà văn Việt Nam về các nhà văn cổ điển Nga, về L. Tolstoi, là sự thán phục, là tinh thần hiện đại, muốn gia nhập vào dòng chảy chung của khoa học, của văn hóa nhân loại, là cố gắng tìm ra hướng đi mới, “thoát xác” cho văn học nước nhà trong giai đoạn chuyển mình đầy ý nghĩa nửa đầu thế kỉ XX. Rất tiếc là ở giai đoạn này, các nhà nghiên cứu, nhà văn Việt Nam mới chỉ có những nhận xét, bài viết lẻ tẻ về L. Tolstoi.
Việc nghiên cứu văn học Nga, nghiên cứu L. Tolstoi ở Việt Nam chỉ thực sự được đặt ra từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỉ XX, khi nền văn học này được giới thiệu rộng rãi qua các bản dịch và được đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông đến đại học. Đóng vai trò nổi bật giúp bạn đọc Việt Nam tìm hiểu văn học Nga, tìm hiểu L. Tolstoi một cách có hệ thống, trước hết phải kể đến các giáo trình đại học. Nghiên cứu L. Tolstoi như là tác giả cổ điển Nga chỉ thật sự được đặt ra trong công trình nhiều tập của Hoàng Xuân Nhị: Lịch sử văn học Nga (phần viết về Tolstoi nằm ở tập 2, NXB Giáo dục, 1962). Sự ra đời của bộ sách là mốc quan trọng có giá trị mở đầu cho việc nghiên cứu văn học Nga ở Việt Nam. Tiếp đó là bộ giáo trình Lịch sử văn học Nga thế kỉ XIX (NXB Giáo dục, 1966, phần về Tolstoi do Nguyễn Hải Hà viết) và bộ Lịch sử văn học Nga gồm 3 cuốn (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1981, 1989, 1990; phần về Tolstoi do Nguyễn Trường Lịch viết). Các bộ giáo trình trên giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, những đóng góp về mặt thể loại qua một số tác phẩm tiêu biểu của Tolstoi gắn với phong trào đấu tranh giải phóng ở nước Nga suốt thế kỉ XIX và quá trình phát triển văn học Nga cũng như văn học thế giới. Qua các bộ giáo trình này, người đọc thấy rõ hơn, cụ thể hơn tư tưởng nghệ thuật của Tolstoi : “ Tôi yêu thích tư tưởng nhân dân”, “ lịch sử, sinh hoạt gia đình luôn gắn bó với tư tưởng nhân dân”, “Tôi cố gắng viết lịch sử dân tộc” trong hình thức nghệ tiểu thuyết chưa từng có ở châu Âu và ở nước Nga.
Bài tiểu luận Tônxtôi (1960) của Nguyễn Tuân đến nay vẫn làm người đọc ngạc nhiên trước tầm hiểu biết, vốn văn hóa rộng lớn và những nhận xét tinh tế của ông về sáng tác của nhà văn Nga. Nguyễn Tuân khẳng định: “cho đến ngày nhân loại du hành vũ trụ đi hết lên các tinh cầu khác, Tônxtôi vẫn là cây đại thụ sừng sững trong rừng văn đại ngàn nước Nga”. Ông rất thán phục tài năng Tolstoi, kinh ngạc trước khả năng quan sát phi thường của nhà văn Nga: “Tônxtôi hành văn chính xác như soi kính hiển vi để tìm cái sâu sắc cho những chi tiết báo hiệu chất tâm lí […]. Nghệ thuật của Tônxtôi rất nhiều tưởng tượng, rất nhiều nội tâm nhưng cũng rất nhiều quan sát”. Nguyễn Tuân phát hiện sự thành công tiểu thuyết của Tolstoi chính là nhờ “sự lập thành của ngàn cái chi tiết, ở quá trình tích luỹ vốn sống “cả rộng cả sâu”. Ông đặc biệt ngưỡng mộ tiểu thuyết sử thi Chiến tranh và hòa bình, coi đó là một đỉnh văn đến nay chưa ai vượt nổi. Đề cập đến Anna Karenina, Nguyễn Tuân chú ý đến yếu tố tự thuật trong tác phẩm, xem Levin là hóa thân của tác giả. Cuộc sống nội tâm của nhân vật này chẳng qua cũng chỉ là “cái tâm tư của đích thân Tônxtôi”.
Đến với Tolstoi, Nguyễn Tuân cảm thông được cái phần sâu xa nhất trong di sản của nhà văn Nga: “Cái tài lớn của Tônxtôi nghệ sĩ thì đã rõ rồi. Nhưng còn phải thấy Tônxtôi ở những điều nghĩ về nhân loại, vì nhân loại, cho nhân loại”(6).
Tạp chí Văn học, báo Văn nghệ là diễn đàn trao đổi học thuật chủ yếu của giới nghiên cứu văn học Việt Nam. Năm 1960, vào dịp kỉ niệm 50 năm ngày mất của L. Tolstoi (1910 – 1960), Tạp chí Nghiên cứu văn học đăng bài Đại văn hào Nga L. N. Tônxtôi của Nguyễn Hải Hà. Khác với cách cảm nhận kiểu nghệ sĩ của Nguyễn Tuân chỉ đi vào một số khía cạnh mà mình tâm đắc, Nguyễn Hải Hà dõi theo quá trình phát triển tư tưởng, nghệ thuật của nhà văn, xem cuộc đời Tolstoi là hành trình khát khao vươn tới sự hoàn thiện.Tác giả phân tích những vấn đề cơ bản đặt ra trong tác phẩm Tolstoi, khẳng định đóng góp lớn lao của ông đối với văn học Nga và văn học thế giới.
Trong sự tiếp nhận của độc giả miền Nam, L. Tolstoi được đánh giá là một trong những đại diện xuất sắc nhất của văn học thế giới. Phong cách cổ điển trong sáng, hài hoà của L. Tolstoi chiếm được cảm tình số đông bạn đọc miền Nam, những người vốn quen với lối văn chương tả thực, giản dị. Họ nhận thấy "bóng dáng to lớn của ông sừng sững trong thư viện các quốc gia và dềnh dàng trong các tủ sách gia đình: không một người nào biết đọc lại không đọc Tolstoi"(7).
Ý nghĩa thế giới của Tolstoi trong lịch sử văn học được giới nghiên cứu miền Nam khẳng định “Léon Tolstoi là một nhà văn lớn… Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, được đưa lên màn ảnh, phổ biến rộng rãi khắp năm châu bốn bể, đã nâng ông lên hàng vĩ nhân… của nhân loại”(8). Người ta nhắc đến ông như tác giả của những bộ tiểu thuyết đồ sộ, dày hàng ngàn trang với Chiến tranh và hoà bình, Anna Karénina, Phục sinh và không ngần ngại khi đánh giá ông là đại diện xuất sắc nhất của dòng văn học cổ điển thế giới, “một trong những hoá thân vĩ đại của nghệ thuật văn chương”.
Từ năm 1959, Nguyễn Hiến Lê đã giới thiệu tiểu sử Tolstoi dưới nhan đề Léon Tolstoi – một Á thánh trên Tạp chí Bách Khoa và trong tập sách Gương danh nhân được xuất bản cùng năm. Là học giả uyên bác, Nguyễn Hiến Lê đem đến cho độc giả miền Nam nhiều gương mặt tiêu biểu của văn chương Nga. Ông viết loạt bài về Gogol, Turgenev, Dostoievski, Chekhov, song đặc biệt yêu thích văn phong L. Tolstoi. Ông dịch, viết lời giới thiệu hơn trăm trang về Chiến tranh và hoà bình. Khi bản dịch hoàn thành, ông tâm sự: “Ôn lại thời gian sống với Chiến tranh và hoà bình, tôi thấy trên hai năm đó tôi đã hiểu Tolstoi hơn… Tôi cũng hiểu thêm nhân sinh quan của Tolstoi trong phần kết của truyện mà Somerset Maugham hết lời tán thưởng”(9). Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Truyện như chưa hết, ngưng lại ở giữa cuộc đời của các nhân vật chính… Phần chung cục gần như là một khúc âu ca nhắc nhở loài người sống giản dị và hoà hợp với nhau trong cảnh thiên nhiên”(10). Theo ông, lối kết trong Chiến tranh và hoà bình là lối kết hay hơn cả trong bốn lối kết của tiểu thuyết(11).
Cũng như các nơi khác trên thế giới, tại miền Nam trước 1975, Chiến tranh và hoà bình được giới nghiên cứu đánh giá là một trong những tuyệt đỉnh của tiểu thuyết Nga, là tác phẩm bộc lộ đầy đủ, trọn vẹn nhất sức mạnh thiên tài nghệ thuật của Tolstoi. Hoàng Vũ Đức Vân khâm phục nghệ thuật phân tích tâm lí của Tolstoi: “Mặc dù ông không tả đời sống bên trong của các nhân vật mà chúng ta vẫn cảm thấy rõ rệt đời sống bên trong ấy như được phân tích thật tỉ mỉ, kĩ lưỡng”(12). Nguyễn Hiến Lê thì bị thu hút bởi “những trang hay nhất trong Chiến tranh và hoà bình là những trang tả cảnh sinh động. Có hàng trăm, hàng ngàn cảnh khác nhau mà cảnh nào cũng như đang diễn lại trước mắt ta”(13) . Mỗi người, tuỳ cách cảm, đều tìm thấy ở Tolstoi cái hay, cái đẹp của nghệ thuật văn chương đích thực; không ít người đã dùng tác phẩm của ông để trau dồi cách viết.
Bên cạnh Chiến tranh và hoà bình, Anna Karenina cũng được coi là tiểu thuyết tâm lí xuất sắc, bức hoạ vĩ đại về thực tại Nga thời kì biến chuyển dữ dội của lịch sử. Người đọc nhận ra ở nhân vật Levin những tương đồng với tác giả về “sự cố gắng giúp đỡ dân quê, niềm tin vào Chúa, tình yêu nhân loại, nỗi thôi thúc suốt đời muốn sống tốt hơn lên” và tìm thấy qua những trang tiểu thuyết này “sự phấn đấu của một tâm hồn tìm kiếm chân lí cuộc đời” (14). Dù còn nhiều vấn đề nội dung, nghệ thuật chưa được đề cập, nhưng nhận định trên đây của nhà sách Khai Trí có thể coi như sự trình bày quan điểm về cách hiểu, cách cắt nghĩa tác phẩm.
Lời Tựa của NXB Phù Sa cũng cho thấy cách tiếp cận phổ biến của độc giả miền Nam đối với Phục sinh, tiểu thuyết cuối cùng của Tolstoi. Theo nhận định của NXB Phù Sa, cội nguồn sức mạnh khiến Vùng đất hồi sinh vượt được thời gian, không gian, “sống luôn hai thế kỉ và có mặt khắp nơi trên thế giới” bởi chính những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Tuy nhiên ở đây, người ta đã dùng những từ ngữ “to tát” để bàn về nội dung cuốn tiểu thuyết; chẳng hạn, cho rằng Vùng đất hồi sinh là “một thử thách của ý niệm khai phóng xã hội nông nghiệp, một mặc cả vô hiệu giữa điền chủ và nông nô, những ẩn ức của kẻ làm chính trị mà không nghĩ mình làm chính trị, một sự trả giá giữa Con người và Thượng đế” (15).
Nghiên cứu L. Tolstoi, không phải lúc nào giới phê bình Sài Gòn cũng có cái nhìn khách quan. Chẳng hạn, nhận xét các nhân vật lịch sử trong Chiến tranh và hoà bình, Nguyễn Hiến Lê có cách hiểu chưa thấu đáo, cho rằng Tolstoi “thâm oán Napoleon…, kẻ thù của dân tộc ông, cho nên trong Chiến tranh và hoà bình ông đã bôi nhọ Hoàng đế Pháp”(16). Theo chúng tôi, khi phân tích, lí giải các sự kiện lịch sử cũng như các nhân vật, Tolstoi trước hết dựa trên những chuẩn mực đạo đức, coi đạo đức là thước đo hành vi, tiêu chuẩn đánh giá nhân vật. Quan điểm này, ở mức độ đáng kể, đã quy định phương thức điển hình hóa trong sáng tác của nhà văn. Đối với Tolstoi, cái vĩ đại không thể tách rời đạo đức, “ở đâu không có sự giản dị, không có cái thiện và cái chân thì ở đấy không thể có sự vĩ đại được”. Hình tượng Kutuzov và Napoleon được xây dựng chính trên nền tư tưởng ấy.
Những suy nghĩ của Tolstoi về cái vĩnh viễn của cuộc đời là đề tài gây chú ý giới trí thức Sài Gòn. Cái chết quả là một bí mật mà suốt đời Tolstoi muốn khám phá, tìm hiểu, nhằm giải đáp câu hỏi quan trọng nhất của con người: Sống là gì? Chết là gì? Và cần phải sống như thế nào? Trong khi cái chết đối với Tolstoi vừa là đối tượng của sự sáng tạo nghệ thuật, vừa là một phạm trù triết học thì Tràng Thiên lại giải thích tư tưởng nhà văn theo một cách khác: “Tolstoi khoẻ mạnh, đầy sức sống và có lẽ tại vì thế đối với cái chết, ông lo lắng và sợ hãi hơn các nhà văn khác.”(17). Theo Tràng Thiên, truyện Cái chết của Ivan Ilich thể hiện nỗi khắc khoải suốt đời của Tolstoi xung quanh ý tưởng về cái chết. Vẫn biết Tolstoi là con người đầy mâu thuẫn và không ít mâu thuẫn tạo nên sự vĩ đại của nhà văn. Nhưng thật ra trong tác phẩm này, Tolstoi không miêu tả sự khủng khiếp của cái chết, mà kể sự khủng khiếp của cuộc đời, một cuộc đời “đơn giản, bình thường nhất và cũng đáng sợ nhất”. Trước lúc chết, Ivan Ilich mới nhận ra cuộc sống vô nghĩa trước đây của mình, mới hiểu rằng mình chưa bao giờ sống như một con người thực sự. Bằng sự thức tỉnh ấy, Tolstoi đã phê phán, vạch trần sự giả dối của cuộc sống quý tộc Nga và khẳng định: không thể sống như vậy, cần phải sống khác! Rất khác nhau giữa cách người ta sống và cách người ta phải sống. Cái chết của Ivan Ilich có ý nghĩa đánh thức. Dụng ý thức tỉnh cuộc sống không chỉ có trong tác phẩm này, mà còn vang lên trong nhiều tác phẩm khác của Tolstoi. Không chú ý đến tính hệ thống của quan điểm, trong tác phẩm của Tolstoi, và do vậy, không chú ý đến yếu tố tích cực ấy, Tràng Thiên chỉ quan tâm khía cạnh huyền bí của cái chết: “Tolstoi chiếu một cái nhìn tỉ mỉ và sáng suốt trên cuộc sống và cái chết ấy, thong thả trình bày lại từng chi tiết. Và tự nhiên từ câu chuyện tầm thường ấy vang một run sợ mênh mông huyền bí” (18).
So với Dostoievski, trong nhận thức của độc giả miền Nam, L. Tolstoi dễ tiếp thu hơn. Cái gốc lập trường xem xét đời sống của Tolstoi là đạo đức. Ông chủ trương dùng cách tu thân để cải tạo xã hội, yêu thương mọi người, coi đó là nguyên tắc tối cao của cuộc sống. Điều này gần gũi với tinh thần đạo Phật vốn rất thịnh hành ở miền Nam những năm 60 – 70. Hơn nữa, trong xã hội miền Nam dưới thời bị tạm chiếm, bao vấn đề ngổn ngang về thân phận con người, thời cuộc, tương lai… được đặt ra với những hướng giải quyết khác nhau. Đến với Tolstoi, không ít người muốn tìm lại niềm tin vào đạo đức, tìm giải pháp hữu hiệu dẫn đến một xã hội hoà đồng mà không phải kinh qua con đường bạo lực. Vì vậy, không ngẫu nhiên, trên mảnh đất miền Nam xa xôi này, Tolstoi được tiếp nhận vừa như một nhà văn – một nghệ sĩ, vừa như một nhà tư tưởng, một triết gia tôn giáo. “Ảnh hưởng của ông về văn chương, cũng như về tinh thần bác ái, về chủ thuyết bất bạo động đã lan rộng từ lâu”(19).
L. Tolstoi giữ một vị trí xứng đáng trong số các tác giả văn học nước ngoài được giới thiệu ở miền Nam trước 1975. Có thể thấy sự thâm nhập của hiện tượng Tolstoi trong đời sống văn hoá văn nghệ miền Nam qua các bài nghiên cứu của giới phê bình Sài Gòn. Những bài viết giúp người đọc phần nào hiểu được sự nghiệp sáng tác của nhà văn, giá trị nội dung, nghệ thuật các tác phẩm lớn, qua đó, cũng thấy được những khuynh hướng tư tưởng thẩm mĩ đặc thù, tầm đón nhận, cách đón nhận của độc giả miền Nam trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động và phức tạp.
Sau 1975, giới nghiên cứu tiếp tục khám phá và tiếp cận một cách bản chất hơn với sáng tác của Tolstoi. Năm 1978, kỉ niệm 150 năm ngày sinh đại văn hào Nga L. Tolstoi (1828 – 1978) được coi là một sự kiện văn hóa trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam. Cũng dịp này, Tạp chí Văn học, Báo Văn nghệ đã ra số đặc biệt về ông. Hàng loạt bài viết được đăng tải: Lep Tônxtôi - một bài học về sức xuân sáng tạo (Nguyễn Kim Đính), Chủ nghĩa anh hùng trong Chiến tranh và hòa bình (Trần Vĩnh Phúc), Tônxtôi và chúng tôi (Hoàng Trung Thông), Những ngày đầu tìm đọc L. Tônxtôi (Vũ Ngọc Phan) v.v…
Mỗi giai đoạn, phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội và phương thức tiếp cận nghệ thuật, đem đến những thay đổi trong cách hiểu những hiện tượng văn học phức tạp và đa nghĩa. Một phương diện quan trọng của tiếp nhận văn học là đánh giá, giải thích, cắt nghĩa tác phẩm. Xung quanh vấn đề này đã nảy sinh nhiều tranh luận. Trong sáng tác của Tolstoi, Anna Karenina là tác phẩm từ khi ra đời đã gặp khá nhiều dư luận khác nhau. Đến Việt Nam, tiểu thuyết này cũng có số phận tương tự. Độc giả của ta “nói chung rất “mê” quyển tiểu thuyết này, nhưng trong niềm say mê ấy không khỏi xen lẫn những băn khoăn, thắc mắc” (19). Nhiều người từng lên án nhân vật Anna “đã đổi con lấy một tình yêu khác mà không phàn nàn gì về sự đổi chác ấy”(20), hoặc nhìn ý nghĩa của tác phẩm chỉ giới hạn ở phương diện cuốn “tiểu thuyết gia đình”. Với nhu cầu đính chính lại tác phẩm, Lưu Liên trong bài Sức mạnh tố cáo của tiểu thuyết “Anna Karenina” chỉ ra: qua nhân vật Anna, Tolstoi đã nêu lên một cách tài tình số phận bi thảm của người phụ nữ Nga, và bằng tác phẩm này, “trong nền văn học Nga vấn đề xung đột giữa khát vọng giải phóng cá tính con người và các thế lực đen tối của xã hội lần đầu tiên được đặt ra một cách gay gắt và sâu sắc nhất”(21).
Việc nghiên cứu Tolstoi được tiến hành trên quy mô ngày càng phong phú, đa dạng cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Năm 1986, sau nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy, Nguyễn Trường Lịch cho ra mắt công trình L.N. Tônxtôi. Chuyên luận phản ánh cái nhìn bao quát về nhà văn Nga, từ tiểu sử, sự nghiệp sáng tác đến tầm ảnh hưởng thế giới lớn lao của Tolstoi trong thế kỉ XX. Phần trọng tâm chuyên luận, Nguyễn Trường Lịch đi sâu tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực của Tolstoi - một bước tiến trong sự phát triển nghệ thuật nhân loại. Theo tác giả, đặc trưng cơ bản nhất trong sáng tác Tolstoi là tính chất sử thi – tâm lí; L.Tolstoi là nhà văn Nga đầu tiên tái hiện được “ biện chứng của tâm hồn”, mô tả đời sống bên trong nhân vật như một quá trình tâm lí nội tại, tự vận động, đồng thời sự trần thuật của ông đạt tới chiều rộng và tính bao quát của sử thi. Điều này mở ra trước văn học khả năng rộng lớn của sự chiếm lĩnh thẩm mĩ đối với hiện thực.
Những năm gần đây, giới nghiên cứu văn học Việt Nam tiếp thu các thành tựu của khoa nghiên cứu văn học Nga, ngày càng có thêm những đóng góp quan trọng trong xác định phong cách tác giả, thể nghiệm và ứng dụng các phương pháp nghiên cứu mới, đặc biệt là thi pháp học hiện đại. Hướng tiếp cận đó thể hiện trong chuyên luận Thi pháp tiểu thuyết L. Tônxtôi (Đọc Chiến tranh và hòa bình), (NXB Giáo dục, 1992) của Nguyễn Hải Hà, chuyên luận Tiểu thuyết Lev Tônxtôi (NXB Văn học, 2010) của Nguyễn Trường Lịch. Các công trình này đề cập đến những vấn đề cơ bản của lí luận văn học và thi pháp học như: thể loại, tư duy tiểu thuyết và tư duy sử thi, kết cấu, cốt truyện, tính chân thật và sự thật trong văn học, quan hệ giữa nguyên mẫu và nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật, biện chứng của tâm hồn, độc thoại nội tâm, so sánh văn học…
Trong di sản văn học của Tolstoi, bên cạnh mảng văn xuôi còn có một phần đáng kể là kịch. Ở Việt Nam, kịch của ông ít được nghiên cứu. Công trình Nghệ thuật kịch của Lep Tônxtôi (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) của Nguyễn Hải Hà là một bổ khuyết cho khoảng trống này. Phân tích sâu sắc giá trị nội dung, nghệ thuật các vở kịch tiêu biểu của Tolstoi Quyền lực bóng tối, Thành quả giáo dục, Thế rồi ánh sáng lóe lên trong tối tăm, Xác thây sống, tác giả đã khẳng định kịch Tônxtôi có chỗ đứng danh dự không chỉ trong lịch sử nghệ thuật kịch Nga, mà cả trong lịch sử nghệ thuật kịch thế giới.
Từ đầu thế kỉ XXI, bên cạnh những chuyên gia văn học Nga đang phát huy ảnh hưởng rất tích cực như: Phạm Vĩnh Cư, Đào Tuấn Ảnh, Phạm Gia Lâm…, ở Việt Nam xuất hiện một thế hệ nghiên cứu mới. Đó chủ yếu là giảng viên các trường đại học được đào tạo ở Nga và ở Việt Nam. Họ đã có những giáo trình, những chuyên luận về văn học Nga và về L. Tolstoi. Có thể kể đến những giáo trình, chuyên luận của Hà Thị Hòa, Đỗ Hải Phong, Phạm Thị Phương, Trần Thị Quỳnh Nga, Trần Thị Phương Phương […]. Các công trình của họ nghiên cứu L. Tolstoi như là cá tính tư tưởng, cá tính sáng tạo trong quan hệ với chủ nghĩa hiện thực, với cơ đốc giáo đặc trưng của Nga và với dòng chảy của văn hóa Nga và văn hóa nhân loại. Một số tác giả đặc biệt chú ý đến việc nghiên cứu sự tiếp nhận văn học Nga, tiếp nhận tác phẩm của L. Tolstoi và việc giảng dạy văn học Nga, giảng dạy L.Tolstoi trong nhà trường từ phổ thông đến đại học ở Việt Nam.
Có thể nói rằng: ở Việt Nam, nếu trong đời sống dịch thuật văn học Nga, dịch thuật tác phẩm của L. Tolstoi, đã hình thành một đội ngũ tiếp nối nhau rất đáng tự hào, thì trong đời sống nghiên cứu văn học Nga, nghiên cứu L. Tolstoi, cũng đã hình thành một đội ngũ tiếp nối nhau như thế. Vì tầm ảnh hưởng vĩ đại, sức cuốn hút mãnh liệt của văn học Nga , của L. Tolstoi và cũng vì nhu cầu nhân loại hóa, hiện đại hóa của chính đời sống văn hóa, văn học Việt Nam.
3. Dấu ấn L. Tolstoi trong sáng tác của một số nhà văn Việt Nam
Sau 1954, cùng với việc giới thiệu văn học Nga một cách có hệ thống, việc tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm từ nền văn học này đối với các nhà văn Việt Nam càng thường xuyên, toàn diện hơn, cả trên phương diện tư tưởng lẫn nghệ thuật.
Tiếp nhận bóng dáng khổng lồ của văn học cổ điển Nga, giới sáng tác Việt Nam từ lâu khao khát: “Làm sao cho nền văn học Việt Nam chúng ta phải có đỉnh này đỉnh khác, nó vút lên trên cái bình nguyên của cánh đồng phong trào thơ truyện” (22). Văn học Việt Nam những năm 60 chứng kiến sự nỗ lực của một số cây bút muốn vươn tới loại tiểu thuyết có quy mô sử thi, dựng lại bức tranh toàn cảnh của một giai đoạn lịch sử. Khuynh hướng này tạo ra những bộ tiểu thuyết nhiều tập như Cửa biển (Nguyên Hồng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Bão biển (Chu Văn)… Trong quá trình sáng tạo những tác phẩm như thế, các nhà văn rất quan tâm đến kinh nghiệm tiểu thuyết Nga thế kỉ XIX, và nhiều nhân vật văn học Nga đã để lại bóng dáng trong tác phẩm của các nhà văn Việt Nam. Trường hợp mà giới nghiên cứu thường hay nhắc tới, đó là ảnh hưởng của L. Tolstoi đến sáng tác của các nhà văn như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ.
Là người có vốn văn hoá rộng, Nguyễn Đình Thi chịu ảnh hưởng văn hoá Nga rất rõ. Ông khâm phục những đỉnh cao văn hoá nhân loại : “Đọc những nhà văn lớn, tôi thấy sự từng trải của họ thật đáng sợ. Đó là những bậc thầy của đời sống, họ hiểu biết đến những chỗ ngóc ngách nhất của lòng người”(23). Ông hết lời ca ngợi nghệ thuật phân tích tâm lí của nhà văn Nga L. Tolstoi : “Hoạt động của tâm hồn con người có lẽ là cái gì phức tạp nhất trên thế giới. Theo tôi các nhà tiểu thuyết lớn đều chú trọng miêu tả sự vận động rất biện chứng của tâm hồn con người ta. Tolstoi là bậc thầy về điểm này” (24). Nguyễn Đình Thi có ấn tượng rất mạnh với Chiến tranh và hòa bình: “ Cuốn sách đã làm tôi xúc động mạnh. Trong cuốn tiểu thuyết, biện chứng tâm hồn đã hòa nhập với triết lí, với sự vận động của lịch sử, và trong sự hòa hợp đó kết tinh rất nhiều vấn đề trọng yếu của thời đại chúng ta”(25). Trong tập tiểu luận Công việc của người viết tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi tâm sự : tác giả Chiến tranh và hoà bình đã cung cấp cho ông những bài học đáng quý trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật. Nếu tư tưởng nghệ thuật lớn nhất của L. Tolstoi là tư tưởng nhân dân, thì đối với Nguyễn Đình Thi, cũng có thể nói như vậy. Minh chứng cho điều này là những sáng tác rất tiêu biểu của ông, cả thơ ( Đất nước, Lá đỏ ), cả nhạc ( Người Hà Nội ) và cả trong tiểu thuyết (Vỡ bờ).
Vỡ bờ là bộ tiểu thuyết lớn của Nguyễn Đình Thi phản ánh nhiều mặt xã hội Việt Nam thời kì trước Cách mạng tháng Tám. Ở tác phẩm này, Nguyễn Đình Thi muốn “xây dựng” một xã hội gồm nhiều thế hệ bởi “xét cho cùng, tiểu thuyết là sự vận động của xã hội thông qua những thân phận con người hay ngược lại, những con người trong sự vận động của xã hội”(26). Viết Vỡ bờ, Nguyễn Đình Thi vận dụng kinh nghiệm của Tolstoi về tính chất sử thi của tiểu thuyết để phản ánh xu hướng sử thi cách mạng của thời đại; học L. Tolstoi về kết cấu tiểu thuyết, cách lựa chọn nhân vật tiêu biểu cho số phận dân tộc, cách dàn dựng nhiều nhân vật cùng xuất hiện song song hoặc đan chéo trên bối cảnh rộng lớn, đưa các nhân vật vào dòng thác lịch sử. Ông cũng học Tolstoi khi miêu tả một số cảnh. “Ví dụ có chương tôi tả mùa gặt… Lúc sắp viết […] tôi tìm xem lại Tolstoi…” (27). Đặc biệt, Nguyễn Đình Thi rất có ý thức học tập những kinh nghiệm của Tolstoi về nghệ thuật miêu tả tâm lí. Nhân vật của ông thường được chiếu rọi bằng ánh sáng từ bên trong, mỗi nhân vật có dáng dấp, màu sắc riêng. Học tập Tolstoi, Nguyễn Đình Thi chú ý tập trung miêu tả tâm hồn sâu kín của nhân vật qua đôi mắt . Đôi mắt của Quyên mang bóng dáng đôi mắt – cửa sổ tâm hồn của Maria. Tuy nhiên, Nguyễn Đình Thi không hoàn toàn rập khuôn theo hình mẫu của Tolstoi. Theo Phong Lê, “Quyên trong quyển II đã thoát khỏi dạng Maria Bolkonskaia trong Chiến tranh và hoà bình” (28).
Miêu tả Phượng, Nguyễn Đình Thi cũng muốn qua ánh mắt, nụ cười, khắc hoạ những nét tính cách khác nhau : một cô Phượng ngây thơ, trong sáng và một cô Phượng chán chường, mệt mỏi, một con người mang bi kịch nội tâm, nổi loạn một cách tuyệt vọng, bế tắc. Phượng gần với cách Tolstoi miêu tả Anna Karenina : “toàn thân nàng trào lên một sức sống dào dạt, dù muốn hay không, vẫn bộc lộ qua ánh mắt hoặc miệng cười. Những lúc nàng cố tình giấu kín không để cái ánh lửa ấy ngời lên trong mắt thì nó lại xuất hiện trong nét cười kín đáo, ngoài ý muốn của nàng” (Anna Karenina). Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét rất đúng : “Hồi ấy người ta tranh luận khá sôi nổi chung quanh một nhân vật ưa thích của tác giả : nhân vật Phượng. Thực ra người đàn bà này cứ như là cái bóng của những Anna Karênina hay Kachia của hai ông Tônxtôi nước Nga” (29).
Viết về trí thức tiểu tư sản, Nguyễn Đình Thi không tập trung vào những quẩn quanh bế tắc vì miếng cơm manh áo ; cái mới là ông chú trọng miêu tả những con đường khác nhau tìm đến cách mạng của họ, những băn khoăn, day dứt của họ về lẽ sống và vận mệnh đất nước. Miêu tả Tư và Hội, những trí thức muốn thoát khỏi cuộc sống chật hẹp, tù túng của xã hội cũ, khao khát đi tìm lí tưởng, Nguyễn Đình Thi chú ý đến kinh nghiệm thể hiện quá trình vận động tư tưởng, tình cảm con người của nhà nghệ sĩ tâm lí bậc thầy Tolstoi. Nguyễn Đình Thi đưa các nhân vật vào trung tâm các sự kiện lịch sử, đặt họ đối diện trước những câu hỏi mà không phải bao giờ cũng tìm ngay ra lời đáp. Những suy nghĩ trăn trở của hai nhân vật được tác giả Vỡ bờ tập trung thể hiện qua các đoạn miêu tả tâm trạng, độc thoại nội tâm. Chứng kiến không khí đau thương của xã hội Việt Nam trong đêm trước cách mạng, cảnh người chết đói la liệt ngoài đường, Tư thấy “Rồi đây có thay đổi được cái gì không ?… Phải có “cái gì” khác nữa. Tư chưa biết nó là cái gì và sẽ thế nào, nhưng phải có cái gì khác nữa”, “Làm gì, mình làm gì bây giờ ?”. Còn Hội, “Càng nghĩ, Hội càng thấy lạc mãi vào một cái gì mênh mông, hình như có một sợi dây nào nếu tìm thấy thì anh sẽ hiểu được tất cả, nhưng cái sợi dây ấy lại không lúc nào anh có thể tìm thấy được”.
Người đọc nhớ Tolstoi miêu tả tâm trạng Pie Bedukhov trong Chiến tranh và hoà bình. Nhân vật của Tolstoi từng băn khoăn tự hỏi : “Cái gì là xấu ? Cái gì là tốt ? Nên yêu cái gì ? Nên ghét cái gì ? Sức mạnh nào chi phối tất cả”, cũng từng có cảm giác : “cần phải làm một việc gì và hi sinh một cái gì” khi nghe tin Moskva sắp bị bỏ ngỏ, và cảm giác này lại xuất hiện khi Pie rời Moskva đến chiến trường Borodino “giá có thể vứt bỏ đi tất cả (cảnh sinh hoạt tiện nghi, sự giàu sang) để đổi lấy một cái gì đó thì thích lắm”. Đổi lấy cái gì, Pie chưa nhận thức được, nhưng điều này đã làm nảy sinh một tình cảm vui sướng mới mẻ.
Đặc điểm phương pháp tâm lí của Tolstoi là ở chỗ ông không chỉ miêu tả một hiện tượng tâm lí đã hình thành hoặc những hiện tượng tâm lí riêng rẽ, rời rạc mà chú ý đến cả quá trình tâm lí. Để dẫn Pie đến quyết định “Phải trở thành một người lính, một người lính bình thường thôi”, Tolstoi cho nhân vật trải qua hàng loạt cảm giác, nối tiếp nhau, thành dòng nội tâm không ngừng. Từ biển cảm giác chất chứa, một ánh sáng trí tuệ mới mẻ giúp Pie nhận rõ con đường trở về ngọn nguồn chân lí, đó là nhân dân. Trong Vỡ bờ, những ấn tượng của cuộc sống xô đến như những làn sóng, tạo phản ứng dây chuyền trong tâm hồn Tư và Hội. Qua hàng loạt câu hỏi, các cảm giác, ấn tượng có khi mơ hồ, không rõ rệt nối tiếp nhau, liên kết nhau, xô đẩy nhau, những con người tiểu tư sản trí thức ấy mới nghiệm ra kết luận, tìm được sợi chỉ đỏ nối liền và cắt nghĩa các hiện tượng rối rắm đan chéo trong cuộc sống.
Vỡ bờ là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Thi, cũng là một thành tựu quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Viết Vỡ bờ, Nguyễn Đình Thi đã cố gắng “miêu tả nhân vật từ bên trong” “nhập vào trong nhân vật mà nghe, xúc cảm, suy nghĩ, nói bằng lời nói của nhân vật” như nhà văn tâm niệm. Thành công đó của Nguyễn Đình Thi không thể không kể đến vai trò người dẫn đường L. Tolstoi.
Viết tác phẩm hoành tráng, bao quát hiện thực lớn lao về một thời kì lịch sử oai hùng của dân tộc là ao ước của các nhà văn Việt Nam. Tuy chưa tạo nên được tác phẩm như thế, song văn học Việt Nam đã có những tiểu thuyết, truyện ngắn mang tính sử thi. Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu cũng là tiểu thuyết mang tính sử thi rất rõ. Tính sử thi thể hiện ở dung lượng tác phẩm, ở âm điệu ngợi ca hào hùng cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc và ở rất nhiều chi tiết, trang miêu tả. Nguyễn Minh Châu đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm nghệ thuật của L. Tolstoi trong Chiến tranh và hòa bình. Chẳng hạn, dễ nhận thấy những trang miêu tả cuộc hành quân của các đơn vị bộ đội trên Trường Sơn “như dòng nước lũ… không ai có tài nào mà phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng không thể biết được đây là rừng hay là quảng trường, là rừng cây hay rừng người, rừng súng đạn” mang dáng dấp cuộc hành quân của những người lính Nga ở Austerlich mà Tolstoi đã từng miêu tả : “Các đoàn quân ra đi mà không biết là đi đâu và không thể nhận ra trận địa mình bỏ lại cũng như trận địa mình sắp dấn thân vào, vì chen chúc nhau đông quá, lại thêm khói và sương mù mỗi lúc một bốc lên dày đặc…” (30). Tuy nhiên, trong Chiến tranh và hoà bình, thái độ phê phán chiến tranh phi nghĩa của Tolstoi thể hiện rõ ở cách miêu tả. Hình ảnh đoàn quân đi trong sương mù có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Những người lính Nga không chỉ hành quân trong sương mù tháng 11 ở Austerlich mà còn hành quân trong sương mù của cuộc chiến tranh không mục đích. Trên một đất nước xa lạ, họ không biết chiến đấu cho ai và chiến đấu để làm gì. Còn trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu, đây là cuộc hành quân chiến đấu vĩ đại của những con người “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hướng tới mục đích thiêng liêng giải phóng Tổ quốc. Vì thế âm hưởng, không khí chiến trường khác hẳn màu sắc sương mù ảm đạm mà Tolstoi đã miêu tả nhằm phê phán cuộc chiến tranh phi nghĩa 1805. Say mê tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình, chắc hẳn hình tượng Andrei Bolkonski dũng cảm, giàu lòng yêu nước đã ám ảnh tâm trí Nguyễn Minh Châu. Cái chết anh hùng và lãng mạn của nhân vật Lữ : “Người chiến sĩ điện thanh ấy trước khi hi sinh còn ngẩng cao đầu lên một lần cuối cùng. Trên nền trời cao, rất cao và xanh, lá cờ đỏ mỗi lúc một thắm tươi đang tung bay, lá cờ mỗi lúc càng tiến dần đến trước mắt” trong Dấu chân người lính phảng phất bóng dáng Andrei ở những trang cuối tập một Chiến tranh và hoà bình khi chàng ngã xuống thảo nguyên Pretsen dưới bầu trời Austerlich cao vòi vọi : “Ở phía trên chàng lúc bấy giờ không còn gì hết, ngoài bầu trời – bầu trời cao, không quang đãng lắm, nhưng vẫn cao vòi vọi, với những đám mây xám chầm chậm lững lờ trôi qua” (31). Hai bầu trời khác nhau, hai nhân vật khác nhau trong hai tác phẩm khác nhau nhưng ý nghĩa ẩn dụ của bầu trời, của đôi mắt các nhân vật ở đây lại rất gần nhau.
Các nhà văn Việt Nam cũng học tập nhiều ở L. Tolstoi trong các hình thức miêu tả, chẳng hạn miêu tả thiên nhiên. Đối với L. Tolstoi, thiên nhiên là thước đo tâm hồn con người. Hoà nhập với thiên nhiên, theo Tolstoi, là dấu hiệu của tâm hồn nhạy cảm, phong phú và mạnh mẽ. Nhà văn sử dụng thiên nhiên không chỉ để tạo khung cảnh, mà còn gợi song hành những nét tâm lí thầm kín trong tâm trạng nhân vật. Nhiều bức tranh thiên nhiên của Chiến tranh và hoà bình đã trở thành những mẫu mực cổ điển trong kho tàng văn chương thế giới: đêm trăng huyền ảo của Natasa, bầu trời đầy tiếng nhạc của Pechia, ngôi sao chổi rực sáng năm 1812 của Pie, đặc biệt là hình tượng cây sồi già trước phép nhiệm màu của mùa xuân tượng trưng cho sự hồi sinh mãnh liệt trong tâm hồn Andrei. Một cây sồi mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của văn hoá Nga và của Chiến tranh và hoà bình. Đó là cây sử thi của tiểu thuyết sử thi. Khó ai có thể quên đoạn miêu tả cây sồi được nhìn từ tâm trạng của Andrei : “Chàng nhìn sang bên trái đường và bất giác đưa mắt ngắm nghía một cây sồi lớn, không nhận ra rằng đây chính là cây sồi mà chàng đang tìm kiếm. Cây sồi già bây giờ đã đổi mới hẳn, toả rộng thành một vòm lá xum xuê xanh tốt thẫm màu đang như say sưa ngây ngất, khẽ đung đưa trong ánh nắng chiều. Không còn thấy những ngón tay co quắp, những vết sứt sẹo, vẻ ngờ vực và buồn rầu trước kia cũng không còn dấu vết. Xuyên qua lớp vỏ cứng già hàng thế kỉ, những khóm lá non xanh tươi đã đâm thẳng ra ngoài. Thật khó lòng tin rằng chính cây sồi cằn cỗi kia đã sinh ra những chòm lá xanh mơn mởn ấy” (32).
Trong tiểu thuyết Mẫn và tôi, Phan Tứ đã xây dựng hình tượng cây đa qua cảm nhận của nhân vật Thiêm: “Giữa những bóng cây xơ xác in trên trời sao, đột ngột nổi lên một cây gì rất to, sáng rực, cành quẫy nhẹ làm rung lao xao cái tán lá tuyền một màu xanh non mát rượi. Tôi sửng sốt một loáng, rồi nhận ra cây đa già bên mái đình, thân và cành chằng chịt những vết rạch, còn nhiều mảnh pháo cắm sâu vào gỗ, lay không ra. Thật nó đấy không? Hình như loạt nổ vừa rồi đã đánh thức nó dậy, và nó lập tức chuyển mình, trút vỏ, thay lá, đi ngay vào cuộc sống mới. Mùa xuân vọt lên giữa đêm. Đi khá xa, tôi còn thấy cây đa kì diệu ấy hiện trẻ măng trong quầng lửa của cuộc nổi dậy” (33). Cây đa có vị trí đặc biệt trong văn hoá Việt Nam. Làng quê cổ truyền Việt Nam nào chẳng có cây đa. Đó là cây thần, cây thiêng trong tâm linh, là quê hương xứ sở. Hình tượng cây đa hiên ngang bất khuất trong bom đạn kẻ thù thể hiện sức sống tiềm tàng không gì khuất phục nổi của nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mĩ đầy thử thách ác liệt.
Sự giống nhau dễ nhận thấy trong cách miêu tả, trong một số chi tiết, hình tượng ở tác phẩm Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ với tác phẩm Tolstoi không đơn giản là vấn đề tương đồng ngẫu nhiên, mà có cả sự tiếp thu sáng tạo của nhà văn Việt Nam, những người gần gũi và yêu tha thiết văn học cổ điển Nga cũng như cá nhân thiên tài L. Tolstoi.
Nếu trong văn học Việt Nam 1954 - 1975, cảm hứng sử thi chiếm âm hưởng chủ đạo, mọi mối quan hệ riêng tư đều quy chiếu về một điểm nhìn lớn lao của quyền lợi cộng đồng thì sau chiến tranh cuộc sống đời thường, sự thăng trầm của số phận con người trở thành nỗi băn khoăn của giới sáng tác. Đi vào thể tài đời tư, khắc hoạ những số phận cá nhân, các nhà văn Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng linh hoạt kinh nghiệm của văn học thế giới, đặc biệt là các thủ pháp nghệ thuật như : tăng cường độc thoại nội tâm, sự phân thân, hoá thân, giấc mơ, ảo giác… để thâm nhập vào cõi tâm linh bí ẩn, khám phá con người trong con người. Về mặt này, Tolstoi với nghệ thuật phân tích tâm lí bậc thầy, phép biện chứng tâm hồn … trở thành phương thức hữu hiệu giúp các nhà văn thể hiện được tầng sâu bí ẩn thế giới bên trong con người, một thế giới luôn bao hàm cả “ánh sáng và bóng tối”. Điều đó góp phần làm cho bức tranh xã hội, con người trong văn học Việt Nam ở giai đoạn sau năm 1975 đa chiều, đa diện và sâu sắc hơn. Do khuôn khổ của bài báo, chúng tôi chưa đề cập được vấn đề này ở đây và sẽ hướng tới vấn đề này trong bài báo khác.
Việc giới thiệu, nghiên cứu di sản đồ sộ của đại văn hào Nga L. Tolstoi trong quá trình tiếp nhận văn hóa, văn học Nga ở Việt Nam là một bộ phận khăng khít, một mắt xích quan trọng của khoa nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn học Nga cũng như của khoa nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn học Việt Nam. L. Tolstoi là mẫu mực của nghệ thuật chân chính, là cây đại thụ toả bóng mát cho nhiều thế hệ nghệ sĩ. Nơi ông tập trung những thành tựu lớn của cả một thời đại rực rỡ trong văn học Nga thế kỉ XIX. Sáng tác của ông được đánh giá như “một viện hàn lâm cho các nhà văn” bởi những giá trị hiện thực lịch sử và những tìm tòi sáng tạo của một tư duy nghệ thuật đi trước thời gian. L. Tolstoi ở Việt Nam đã làm phong phú hơn, sâu sắc hơn, hiện đại hơn cho đời sống văn hóa, văn học Việt Nam. Đồng thời quá trình tiếp nhận những sáng tác của L. Tolstoi ở Việt Nam, không nghi ngờ gì nữa, cũng đã làm giàu hơn, đa dạng và sâu sắc, tinh tế hơn cuộc sống của văn hóa Nga trên hành trình về phương Đông.
(1) Nguyễn Minh Châu: "Tác dụng kì diệu của tác phẩm văn học", Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 9/1985, Hà Nội.
(2), (8), (19) Trần Phong Giao: "Vài cảm nghĩ xuôi dòng", Tạp chí Văn số 128/1969, Sài Gòn, tr. 79, 82, 80.
(9) Nguyễn Hiến Lê: "Lời cảm ơn gửi nhà xuất bản", Văn số 128/1969, Sài Gòn, tr. 22.
(3), (10), (13), (16) Nguyễn Hiến Lê: "Công việc dịch của chúng tôi", Chiến tranh và hoà bình, NXB Lá bối, Sài Gòn, 1969, tr. 111, 85, 101, 97.
(11) Nguyễn Hiến Lê : “Bốn lối kết trong tiểu thuyết, bốn nhân sinh quan”, Bách khoa số 290, 291/ 1969, Sài Gòn, tr.18.
(28) Phong Lê : “Chung quanh vấn đề Vỡ bờ”, Nguyễn Đình Thi về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 176.
(19), (21) Lưu Liên : “Sức mạnh tố cáo của tiểu thuyết Anna Karênina”, Tạp chí Văn học số 6/ 1994, Hà Nội, tr. 107, 116.
(20) Nguyễn Thành Long: “Lep Tônxtôi và Anna Karênina”, Báo Văn nghệ số 61/ 1964, Hà Nội, tr. 6.
(29) Nguyễn Đăng Mạnh: Nhà văn Việt Nam hiện đại chân dung & phong cách, NXB Trẻ, TP.HCM, tr. 315.
(14) Lời “Tựa” Anna Karenina , NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1973, tr.26.
(7), (15) Lời “Tựa” Vùng đất hồi sinh, NXB Phù Sa, Sài Gòn, 1973, tr. 7, 14.
(4), (5), (25) N.I. Nikulin : “Tác phẩm của Lep Tônxtôi ở Sài Gòn thời bị tạm chiếm”, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 7/1991, Viện Khoa học Xã hội tại TP. HCM, tr. 83, 87, 71.
(27) Nguyễn Đình Thi: Công việc của người viết tiểu thuyết, NXB Văn học, Hà Nội, 1969, tr. 15.
(23), (24), (26) Nguyễn Đình Thi : “Đại hội lần thứ tư các nhà văn Liên xô”, Tạp chí Văn học số 5/ 1977, Hà Nội, tr. 140, 165, 158.
(17), (18) Tràng Thiên: "Một đề tài của Tolstoi: cái chết", Bách khoa số163/1963, Sài Gòn, tr. 67, 67.
(30), (31) L. Tônxtôi: Chiến tranh và hoà bình, Tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1976, tr. 668, 691.
(32) L. Tônxtôi: Chiến tranh và hoà bình, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 1976, tr. 248.
(6), (22), Nguyễn Tuân: “Tôn-xtôi”, Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 3, NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr. 428, 420.
(33) Phan Tứ : Mẫn và tôi, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1972, tr. 83.
(12) Hoàng Vũ Đức Vân : "Léon Tolstoi trong tác phẩm Chiến tranh và hoà bình", Văn học số 22/1964, Sài Gòn, tr. 38.
Nguồn: Viện văn học