Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm và sẽ còn lùi xa, xa mãi. Kỳ lạ thay chiến tranh càng lùi xa bao nhiêu thì chủ nhân - linh hồn của những con “tàu không số” năm xưa dường như lại càng gần hơn bấy nhiêu với những ai biết trân trọng những giá trị lịch sử do các thế hệ cha anh tạo dựng nên. Không biết đấy có phải là một trong những lý do giúp nhà văn Đình Kính hoàn thành và cho ra mắt tập ký Huyền thoại tàu không số (*) trong dịp toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang khẩn trương chuẩn bị kỷ niệm 50 ngày thành lập Đoàn 759, tức Đoàn 125 sau này (23/10/1961- 23/10/2011), đơn vị đầu tiên của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.
Cuốn sách dày gần 400 trang được in trên giấy trắng, bìa đẹp, trang trọng do NXB Hội Nhà văn phối hợp với Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển phối hợp xuất bản vừa cho ra mắt bạn đọc, là một món quà tri ân, một nén tâm nhang của nhà văn Đình Kính và của đồng đội những may mắn còn sống sót sau cuộc chiến khốc liệt ấy đối với những người đã từng sống, chiến đấu và hy sinh trên con đường này. Trừ Lời giới thiệu và Lời cuối sách, còn lại là 20 bài ký bằng một lối văn kể chuyện mộc mạc, dân dã, với chi tiết những sự kiện, thấm đẫm những trang đời hào hùng, liệt oanh, có đôi khi còn ngậm ngùi, nhói đau, nhà văn Đình Kính đã khắc họa lại chân dung những người anh hùng hết sức chân thật, khiến ai đã từng đọc cuốn sách này không khỏi nghĩ suy.
Chuyện kể của anh hùng LLVT Hồ Đức Thắng vượt biển bằng chiếc thuyền cánh dơi ra Bắc xin vũ khí, xuất phát tại Khâu Hút ngày 3/8/1961 nghe như chuyện của người ngoài hành tinh: “Đã cố đi sớm, tránh mưa bão, vậy mà tới Nha Trang, gió lớn ập về. Lúc này dừng lại không ổn, bởi khi đi, chúng tôi chọn “phương án bất hợp pháp”. Đành cho thuyền xuyên qua bão, hướng phía Bắc, đi miết. Bão tan, chúng tôi dạt lên một nơi, mà sau này mới rõ là Ma Cao. Cảnh sát Anh, cảnh sát bản địa xì xồ tiếng Tây, tiếng Tàu. Mình không rõ mô tê chi, chỉ vung tay làm hiệu. Và hình như họ cũng hiểu được rằng chúng tôi là thuyền đánh cá từ mãi Nam Việt Nam bị bão nên lạc vô đây. Lục soát không có gì nghi vấn, cuối cùng họ thả. Chạy được nửa ngày lại lạc vô Du Hải, Quảng Châu,.. ” (tr 47).
Vậy mà sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư lệnh Hải quân định xây nhà cho ông trên phố, Quân khu IX cũng phân đất trên phố, nhưng ông đều từ chối, trả lại hết. Vì theo ông, già rồi, nhiều nhà, nhiều đất làm gì; hồi ở rừng hai tấm lá trải xuống, cũng xong. Còn bao nhiêu người khó khăn hơn mình... Với nữa vợ chồng ông thật khó bỏ mảnh đất này mà đi... Cả đời hoạt động gắn bó. Nghĩa tình sâu nặng lắm... (tr 45).
Không biết có phải những người cùng thế hệ với anh hùng Hồ Đức Thắng được sinh ra như chỉ để hy sinh cá nhân, làm những việc phi thường, chúng ta gọi là anh hùng, mà những người bình thường khác không thể nào làm được. Nhưng họ lại là những người rất ít quan tâm đến quyền lợi vật chất, dù lớn hay bé. Điều này liệu có góp phần lý giải sự khác biệt về lẽ sống giữa thế hệ cha anh trước đây và nhiều người trong chúng ta hôm nay?
Câu chuyện kể về sự hy sinh của bà Trốc, ở Cà Ná, Nha Trang, vợ anh hùng LLVT Đặng Văn Thanh, người đã có hàng chục lần ra Bắc vào Nam trên những con “tàu không số” chở vũ khí tiếp viện cho chiến trường, thật sự xúc động, ngậm ngùi và xót xa biết bao về sự hy sinh của người phụ nữ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ.
Khi ông Thanh ra Bắc, bà mới nhỉnh hơn tuổi ba mươi. Ở tuổi ấy, tuổi đang muốn gần chồng, phải xa, phải đợi khổ lắm... Mười lăm năm sau khi đất nước đã bình yên, ông về. Bà đâu có biết ông ấy đã là một anh hùng! Mà anh hùng, để làm gì... Nhưng bà đâu có trách ông ấy... Cũng không hờn ghen chi người phụ nữ ngoài đó. Bà còn bảo ông đưa mình ra Hải Phòng thăm mấy mẹ con cô ấy. Tội lắm, cô ấy cũng có chồng là liệt sĩ nên cũng cần có chỗ để nương tựa. Là phụ nữ, ai cũng phải biết thông cảm. Gặp cô ấy rồi, chuyện trò lại thấy thương. Chiến tranh đã mất quá nhiều, cớ chi không đùm bọc, nhường nhịn nhau mà sống. Bà Trốc bảo ông Thanh đưa các cháu về Cà Ná làm ăn, nhưng ông Thanh còn ngại. Biết ông nhà còn băn khoăn như đứng giữa ngã ba đường, chẳng biết rẽ lối nào, bà liền bảo ở ngoài này các con còn nhỏ, ông ở lại để cùng cô ấy chăm lo việc học hành và nuôi dạy chúng cho nên người,... Từ dạo ấy, hàng năm ông có về Cà Ná thăm bà, nhưng bà không giữ lại lâu. Chẳng phải vì bà bực mình chi mô, đàn bà ai không muốn gần chồng, nhưng còn lũ trẻ và cô ấy ngoài đó cần sự có mặt của ông hơn. Với nữa, già rồi, đi lại nhiều tội lắm... (tr 104 - 105).
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi vì không chỉ dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra những người con anh hùng, mưu trí, dũng cảm, yêu nước thương nòi, biết đặt lợi ích của quốc gia dân tộc lên trên lợi ích cá nhân của mình như anh hùng Đặng Văn Thanh, mà một nửa công lao và thắng lợi ấy thực sự đã thuộc về những người phụ nữ như bà Trốc ở Cà Ná.
Câu chuyện của anh hùng Đặng Văn Thanh kể về hai người đồng chí của mình là thủy thủ trưởng Trần Nhợ và thuyền phó Dương Văn Lộc cùng đi trên chiếc tàu 41 vào tháng 11-1966 trên đường tiếp viện vũ khí vào Nam thật sự xúc động, đã gây cho tôi cảm giác của sự xót xa. Vẫn biết trong chiến tranh, điều gì cũng có thể xảy ra. Nhiều người sống sót bảo rằng đạn bom tránh mình chứ mình làm sao tránh được bom đạn. Nói là nói vậy thôi, chứ dù sao điều ấy cũng là một cái gì đó ngoài sức tưởng tượng của tôi và của biết bao người, nhất là các thế hệ sinh ra sau chiến tranh.
Anh hùng Đặng Văn Thanh nhớ lại: “Trời gần sáng, phía ngoài, tàu chiến Mỹ nháy đèn phát tín hiệu liên tục... Chi ủy hội ý, quyết định: nhằm giữ bí mật vị trí thả hàng và không để tàu rơi vào tay giặc, hủy tàu. Sau khi anh em lên bờ, tôi và máy trưởng Phan Nhạn hủy tài liệu, định giờ ngòi nổ ba mươi phút, rồi bơi vào bờ. Tôi nghĩ thời gian đó đủ thời gian để bơi xa tàu. Một con sóng hất tôi lên bãi cát. Tôi quay nhìn lại, con tàu vẫn như một tảng đá, đen trũi, trơ trơ trên mặt nước, cứ dập dềnh. Đầu tôi căng ra, muốn vỡ. Vừa lúc, hai bóng đen lao ra mép nước, đó là thuyền phó Dương Văn Lộc và thủy thủ trưởng Trần Nhợ. Hai anh lo tàu không nổ sẽ rơi vào tay địch, nên đã bơi ra điểm hỏa... Và, trời ơi, vừa lúc đó, nơi tàu 41, một khối lửa bùng lên. Tôi hoảng loạn nhào ra, gào gọi tên hai anh, nhưng tiếng tôi đã bị lấp chìm giữa ào ạt sóng và gió... Được biết, sau khi chúng tôi rút về phía Tây, địa phương tiếp tục tìm kiếm. Du kích và các cô bác tỏa đi khắp bãi biển, cuối cùng tìm thấy một... ống chân. Họ đem về chôn cất. Sau này được quy tập về nghĩa trang Phổ An (Đức Phổ, Quảng Ngãi). Ống chân ấy cho đến nay vẫn chưa rõ là của anh Lộc hay là của anh Nhợ, nên phần mộ hai người chưa có tên. Biết đây là nỗi day dứt, là nỗi đau lớn của gia đình hai anh, nên với tình cảm của mình, nhiều lần tôi trở lại Phổ An, tìm gặp nhân chứng, chụp ảnh mộ chí và cầu viện đến các nhà ngoại cảm, nhưng... (tr 244 - 245)
Câu chuyện của anh hùng Đặng Văn Thanh làm tôi nhớ lại cảnh người đồng đội cùng trực trên mâm pháo với tôi khi ấy trên tuyến đường Trường Sơn, vào cuối năm 1968, bị một mảnh bom Mỹ xuyên qua tim hy sinh tại chỗ. Chính tay tôi đã đem thi thể đồng đội mình đi chôn tới bốn lần. Lần thứ nhất hình hài còn nguyên vẹn, chôn xong bị bom Mỹ cày lên, vắt xác trên cành cây, tìm mãi mới thấy, lại đem chôn. Lần thứ hai chôn xong, bị hổ rừng bới tung xác lên ăn hết toàn bộ lục phủ ngũ tạng, lại đem chôn. Lần thứ ba chôn xong chưa được hai tiếng cạnh bờ suối, lại bị một bom hất tung nấm mộ. Cuối cùng đồng đội tìm mãi chỉ được một cánh tay, tôi lại đem chôn. Cho đến hôm nay, hình ảnh người đồng đội cũ vẫn còn ám ảnh trong tâm trí tôi. Đọc Nỗi đau còn lại của anh Đình Kính lại càng làm tim tôi nghẹn thắt.
Trong Lời giới thiệu của cuốn sách, đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư BCHTW Đảng đã chỉ rõ “Vận chuyển vũ khí vào chiến trường bằng đường biển trong những năm chiến tranh khốc liệt là công việc hết sức khó khăn, vô cùng gian truân và nhiều hy sinh. Thiên nhiên khắc bạc, biển cả mênh mông, sóng to gió lớn; kẻ thù nham hiểm lắm mưu kế, trang bị hiện đại, phong tỏa nhiều thủ đoạn… Song với tinh thần quả cảm, táo bạo, mưu trí và sáng tạo, cán bộ, chiến sỹ đoàn “tàu không số” đã lập nên nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc. Với chiến công đó, đơn vị đã hai lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” (tr 5). Và đồng chí cũng không quên “Cám ơn nhà văn Đình Kính đã sưu tầm và viết lại những câu chuyện, những chuyến đi một cách trung thực, cảm động” (tr 6).
Do yêu cầu của cuộc chiến đấu chống Mỹ lúc bấy giờ, chiến trường miền Nam đang cần sự chi viện từ hậu phương miền Bắc, nên dù khó khăn gian khổ đến mấy cán bộ và chiến sĩ trên những con “tàu không số” cũng phải vượt qua. Cũng vì lẽ đó mà họ đã lập nên những chiến công vô cùng xuất sắc. Song song với những chiến công đó, sự hy sinh sức người sức của là không thể đo đếm được, đối với những người đã hy sinh, những người còn sống và cả những người ở hậu phương. Qua cuốn sách cho thấy nhà văn Đình Kính đã dày công sưu tầm trong một thời gian dài để có thể tái hiện lại những câu chuyện, những số phận cuộc đời cùng những chuyến đi một cách trung thực và cảm động, giúp cho các thế hệ sau càng thấu hiểu hơn công lao cùng sự hy sinh anh dũng của các thế hệ cha anh trước đây, những người ở mặt trận cũng như bao người mẹ, người chị, người vợ ở hậu phương, để non nước này có độc lập tự do và dựng xây cuộc sống ấm no hạnh phúc ngày hôm nay. Âu đây cũng là trách nhiệm và nghĩa vụ của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và cũng là sự nhắn gửi đến thế hệ trẻ hôm nay đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của cha ông ta
ĐỖ NGỌC YÊN
———
* Huyền thoại tàu không số, Ký của Đình Kính, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011