Ngón hoa (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2011) là tập truyện ngắn của một nữ nhà thơ. Đọc hết tập truyện tôi thấy Phạm Vân Anh bước đầu đã khẳng định được mình ở thể loại mà nhiều người gọi là văn chương “tác chiến” này. 11 truyện, dài, ngắn khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp đều toát lên một âm hưởng chung về thân phận những “con người nhỏ bé” trong xã hội. Sự lựa chọn, tiếp cận đề tài, giọng văn, mạch truyện, xây dựng tính cách nhân vật... của Phạm Vân Anh đều rõ mà không phô, kín mà không bí, nhẹ mà không nhạt, đằm mà không nặng. Làm được như vậy, giới chuyên môn gọi là người viết “có nghề”.
Cảm nhận của tôi là Phạm Vân Anh tỏ ra khá thành công khi mô tả những tầng lớp người khác nhau trong xã hội, từ người lính trong Mười tám mảnh dù hoa, anh bộ đội biên phòng trong Giữa tầng trời, những cô gái khiếm thị làm nghề tẩm quất mù trong Ngón hoa, hay các đào kép ca trù xưa trong Ba dây khắc khoải...
Truyện Giữa tầng trời kể lại quá trình thực thi cắm mốc trên biên giới phía Bắc của bộ đội biên phòng dưới sự chỉ huy của thượng tá Tuýnh. Quá khứ của ông gắn liền với sự hy sinh xương máu của bao đồng đội trong cuộc chiến đấu giữ từng tấc đất biên cương Tổ quốc. Còn tương lai lại thôi thúc ông phải đem hết lương tâm và trách nhiệm của người thực thi nhiệm vụ quan trọng này để muôn đời con cháu không còn oán trách được những người đi trước như ông. Chính vì lẽ đó mà ông cùng với các chiến sĩ trẻ biên phòng phải cuộn người trong túi ngủ như cái kén sâu khổng lồ trên đỉnh Cao Ba Lanh hay Pò Hèn. Không chỉ người lính già Tuýnh, mà cả Đính - người trực tiếp thực thi nhiệm vụ, cũng xác định thật rõ trách nhiệm của mình trước dân, trước Đảng: “Đời người chẳng cầu gì hơn là cầu an, quốc gia cũng vậy. Giữ được đất, giữ được hòa bình là quyết tâm chiến lược của chúng ta... Em cũng xót lắm, đất này là máu chứ đâu phải đất thường...”
Bếp nồng đêm lạnh là những trang viết xúc động về mối quan hệ quân dân cá nước, những phong tục tập quán, tình cảm của đồng bào các dân tộc thiểu số và các chiến sĩ biên phòng. Tác giả đã khéo khi sử dụng tiếng dân tộc trong truyện này, chỉ vừa đủ để mô tả tính cách nhân vật ệ Duống, trong khi với nhiều người viết, đây có thể là mảnh đất màu mỡ để phô diễn, lạm dụng kiến thức tiếng dân tộc của mình. Mùa huyết huệ lại là một truyện ngắn cảm động về mối tương duyên của đôi bạn gái vong niên, mồ côi vô thừa nhận được ông trùm trưởng giáo phường nhận về nuôi. Cả hai cùng theo nghiệp cầm ca, một đàn, một hát. Con gái đến tuổi dậy thì chẳng ai cưỡng lại được lẽ tự nhiên, nhưng cuộc đời như một kẻ đùa dai, bên ngực phải của Chương thì cứ đầy đẫy, nóng hôi hổi ra, còn bên kia bị cần đàn đáy tì vào suốt quãng đời cầm ca trở nên lép kẹp và vô cảm từ lúc nào. Chẳng ai cấm được người khiếm khuyết không được yêu, và Chương từ vô thức đã trở thành người tình đồng tính của Huệ. Tình yêu đơn phương thuở đầu đời ấy đâu dễ nguôi ngoai, cả khi Chương đã về già: “Bà lần giở trong chiếc hòm sắt tây cũ kỹ lấy ra bộ phách tre bạc phếch rồi xếp bằng trên tràng kỷ mà hát. Bà nghẹn lời, xương hàm cứng lại, hai tay phách lăn xuống đất nảy lên những tiếng khô khốc... đứa nhỏ chèo thuyền vớt hoa đội tang trắng ôm di ảnh người đã khuất. Mùa huyết huệ đã tàn. Chẳng hiểu sao sáng hôm ấy vẫn đỏ rực mặt hồ như những giọt lệ ngậm máu tươi và khe khẽ hát”. Kết thúc câu chuyện thật buồn, nhưng không lụy, thoảng nhẹ mà đằm, đọng lại trong ta nốt trầm của âm thanh đàn đáy về thân phận người cô liêu chốn trần gian. Ngẫm mà nghẹn ngào, xót xa cho những ai đã trót mang trong mình nghiệp cầm ca.
Với truyện Ngón hoa Phạm Vân Anh lại đưa người đọc đến một góc nhìn khác về thân phận những cô gái khiếm thị làm nghề tẩm quất. Mở đầu truyện tác giả đã làm người đọc bất ngờ, thảng thốt với giọng ráo hoảnh của người thường trực: “Lương ơi, đến lượt cháu rồi này”; “Giường số 13, đàn ông đấy. Cháu làm cho chu đáo nhé”. Khách của cô gái tên Lương có thể là một gã đàn ông trong đám người ô hợp ngoài bến cảng, cũng có khi là một ông chủ hiệu bánh mỳ, một võ sĩ trên đấu trường đấm bốc... Nhưng với những người khiếm thị, tuổi tác và nghề nghiệp của khách hàng không làm họ mấy bận tâm, mà quan trọng là nhân cách con người. Bởi vậy, cô gái đã giải thích sau khi sờ lên mặt người khách: “Tôi không nhìn được nên đành cảm nhận và luận vẻ mặt con người thông qua đôi tay”; “Sống trong bóng tối, tất thảy chỉ lờ mờ ảo giác. Tôi hy vọng nhận biết được người tốt kẻ xấu qua gương mặt họ”; và “Với đôi tay tôi, ông là người tốt”. Đoạn đối thoại giữa Lương và người khách chỉ vỏn vẹn chưa đầy 180 chữ đã làm bật lên khá rõ tính cách của cả hai con người. Hóa ra ở chỗ tận cùng sâu thẳm của khát vọng, vị khách cũng nào có khác gì Lương. Anh ta là người từng tả xung hữu đột trên võ đài nhưng cũng từng mơ đến cuộc sống vợ chồng, ngóng vọng một nửa bên kia mà không thành. Ngón hoa đã cho thấy năng lực tiết chế ngôn ngữ đối với người viết truyện ngắn là một thứ vũ khí hết sức lợi hại. Càng tiết chế bao nhiêu, truyện càng hàm súc bấy nhiêu. Không gian và thời gian của truyện ngắn không cho phép nhà văn “dây cà ra dây muống”, nên có thể nói đây là cả một nghệ thuật “nén chữ”, tương tự như công nghệ nén dung lượng thông tin trong chíp điện tử vậy. Đây là tập truyện ngắn đầu tiên của Phạm Vân Anh, nhưng cô đã tỏ ra có ý thức trong nghệ thuật “nén chữ”. Có thể nói cả 11 truyện trong tập đã không để lại những khoảng trống về xúc cảm thẩm mỹ, đây là thành công bước đầu rất đáng ghi nhận của Phạm Vân Anh, mặc dù không phải truyện nào cũng đạt được hiệu quả nghệ thuật như mong muốn của chính tác giả và người đọc.
Ba dây khắc khoải có số trang lớn hơn các truyện khác. Đây là một truyện ngắn khá hay, kể về hành trình của kép Liễn, từ con một gia đình nghèo khó, được đào Nhạn xin vào ca quán Thanh Tân cầm đàn đáy cho các ca nương hát ca trù mua vui cho bọn quan lại phong kiến và lính Nhật, đến việc đi theo Việt Minh rồi trở về làng quê nghèo gây dựng lại nghề hát ca trù cho địa phương, những mong giữ lại một chút lửa lòng đam mê nghề “xướng ca vô loài” cho con cháu mà một thời bị coi là thứ nghệ thuật ủy mị, suy đồi.
Với văn chương, đây là đề tài hay, nhưng khó. Nếu không vững tay thì người viết hoặc sẽ rơi vào sự sơ lược, nôm na hoặc màu sắc chính trị thô thiển (Từ khi Nhà nước ta có chủ trương khôi phục lại vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, nghề hát ca trù mới được hồi sinh, và cách đây chưa lâu, ngày 1-10-2009 ca trù đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp). Với đề tài và cốt truyện này, không ít người có thể triển khai thành một cuốn tiểu thuyết dày dặn, nhưng Phạm Vân Anh lại chỉ gói gọn trong một truyện ngắn “dài”. Làm như vậy kể ra hơi “phí”, bù lại, người đọc thấy cô là cây bút biết lượng sức mình. Điều ấy thật sự đáng quý với người cầm bút có tuổi đời còn khá trẻ như Phạm Vân Anh.
Ba dây khắc khoải là khắc khoải kiếp người, khắc khoải phận nghề, và lớn nhất là khắc khoải vận nước. Đất nước trong thời khắc trước và sau ngày giành được độc lập, 1945, chồng chất khó khăn. Kiếp cầm ca thì Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay (Kiều). Vận nước mong manh, kiếp người chìm nổi hỏi phận nghề còn mấy ai nương. Với lối viết dung dị, tự nhiên, từ câu chuyện của hai nhân vật chính đào Xoan và kép Liễn, bao thân phận con người từ quá khứ đến hiện tại dần hiện ra, chẳng ai giống ai, một người một phận. Những trang viết về mối quan hệ và cách ứng xử của ông cháu kép Liễn với cha con người hát xẩm tên Thuận và đoạn cả Nghị, kép Liễn và đào Xoan ra vườn chùa thắp hương cho đào Nhạn đã thực sự gây xúc động lòng người. Những con người có hoàn cảnh éo le, lại trót đam mê nghiệp cầm ca, một xưa, một nay bỗng dưng gặp nhau, âu cũng là duyên số. Cả Nghị và kép Liễn vốn là những người ở hai bên chiến tuyến, lại là tình địch của nhau, tưởng mối cừu thù ấy chẳng bao giờ có thể khỏa lấp. Ấy vậy mà trước anh linh của người con gái tài hoa bạc phận đào Nhạn, hai người lại có thể cùng thắp chung nén nhang lên một nấm mồ.
Chỉ có lòng vị tha và tình yêu con người mới có thể hóa giải cho những số phận khác nhau, kể cả những người một thời là kẻ thù của nhau, làm cho họ trở nên người hơn, bởi lẽ xét cho cùng họ đều mang trong mình thân phận của những “con người nhỏ bé”. Có lẽ đấy là thông điệp đầy tính nhân văn mà Phạm Vân Anh muốn gửi đến độc giả của mình
VIÊN AN