Trường Sa trong mắt trong
Ngày đăng:  

Khi màu biển thẫm loang hút tầm mắt thành đường chỉ thẳng nơi chân trời và gió cứ lồng lộng căng tràn lồng ngực, rồi những câu chuyện về biển của thủy thủ tàu HQ 396 mỗi lúc một đượm nồng thì tôi biết ý định viết nhật trình của mình khó mà thực hiện. Làm sao có thể chui vào phòng tàu bức bối, trong ánh điện tù mù loạt soạt những dòng chữ rối rắm khi mà ngoài kia, biển ào ạt thế!

Giờ đây, khi đã ở đất liền, lòng tôi vẫn như có tiếng sóng từ Trường Sa cồn cào… Trên da thịt ấm áp vị mặn mòi gió biển. Chập chờn trước mắt, cánh hải âu chao liệng, những chú cá chuồn lấp lánh vụt khỏi mặt nước lao đi như viên đạn bạc trong ráng hoàng hôn chạm biển. Nhưng  trên tất cả, nụ cười rạng ngời của người lính Hải quân với dải yếm trắng viền xanh rờ rỡ, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay, mốc chủ quyền và dòng chữ “NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” của những Đá Lớn, Sinh Tồn Đông, Sơn Ca, Đá Tây, Đá Thị, DK1 Huyền Trân, Trường Sa Lớn… và nữa, cả những sắc hoa thả xuống biển trong lễ tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh ngày 14/3/1988 trong khi làm nhiệm vụ trên thềm lục địa phía Nam Tổ quốc… cứ biếc lên, lấp lánh ánh nhìn đau đáu của những cháu con Lạc Long Quân đã ngã xuống nơi đầu sóng ngọn gió để bảo vệ chủ quyền bao đời nay. Biển của mình đấy! Đảo của mình đấy! Tôi đã sung sướng thốt thành lời khi chấm nhỏ đảo đầu tiên của quần đảo Trường Sa hiện trong tầm mắt.

Sáng ngày thứ ba của hành trình, mọi người không ai bảo ai đều nán lại phía lan can dõi mắt ra biển bởi theo thông báo, hôm nay tàu ghé đảo. Kia kìa! Có ai đó hét lớn. Chấm nhỏ không mất hút nữa mà hiện rõ dần. Một ngôi nhà được bao quanh bởi “vườn san hô màu nõn lá” khúc xạ qua nước biển. Tôi đã ngây người, đã rưng rưng nhìn lá cờ đỏ sao vàng trên chiếc xuồng cao tốc đang chạy từ đảo ra bay phần phật giữa đại dương mênh mông đầy kiêu hãnh “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước…”. Vong vọng bài quốc ca trong tâm tưởng, khẽ nén hơi, tôi thở ra thật nhẹ như muốn giữ lại thật lâu cảm giác tuyệt vời này. Phải. Sau quãng thời gian hai ngày chỉ biết mênh mông biển, mênh mông gió, bất chợt Tổ quốc hiện ra. Rờ rỡ trước mắt. Đã là con cháu Lạc Hồng, ai không rưng rưng cho được?

Đảo đầu tiên đoàn ghé vào là Đá Lớn. Ở điểm A của đảo tôi đã gặp những người “kê cao thêm đảo” - như lời thượng úy Nguyễn Văn Đồng - quê Kim Bảng, Hà Nam ví von. Họ chính là những người lính của trung đoàn công binh 83 - Quân chủng Hải Quân. Không áo trắng, chẳng quần tím than lãng mạn, trong trang phục quần áo xanh công nhân lấm lem hồ vữa, bê tông, anh Vương quê Nam Định hóm hỉnh cười pha trò: Chúng tôi đầu đội trời chân đạp biển, hết đảo này đến đảo khác, “chơi” với thủy triều để kê Tổ quốc cao thêm! “Kê Tổ quốc cao thêm”. Câu ví von sao mà giản dị nhưng cũng vô cùng thiêng liêng đến vậy! Từ đảo nổi, đảo chìm đến những bãi đá ngầm, dấu chân thầm lặng của họ đã “kê Tổ quốc cao thêm” bằng những ngôi nhà, những cột mốc xác lập chủ quyền với dòng chữ  “C.H.X.H.C.N Việt Nam… Đảo… Kinh độ… Vĩ độ”. Công việc của họ bắt đầu khi thủy triều xuống không kể đêm hay ngày, nắng hay mưa. Vất vả nhất là vận chuyển vật liệu từ tàu xuồng lên đảo. Mồ hôi ra nhiều, lại liên tục tiếp xúc với nước biển nên người lúc nào cũng nhơm nhớp, vô cùng khó chịu. Ấy vậy mà có những giai đoạn thiếu nước, phải bốn năm ngày mới được tắm dè xẻn một lần. Anh Đồng - người đã đặt chân lên hầu hết các đảo của quần đảo Trường Sa, thậm chí có những đảo đặt chân lên đến lần thứ hai, thứ ba tâm sự, rất nhiều lần nhìn những trận mưa trên đảo mà chỉ biết tiếc hùi hụi vì biết lấy gì mà hứng? Anh bảo dù tay mình đã xây dựng không ít cột mốc ở các đảo, nhưng lần nào đắp dòng chữ C.H.X.H.C.N Việt Nam cũng vẫn cứ thấy rưng rưng. Khi ấy mọi vất vả thiếu thốn, những lo toan của gia đình phía sau đều tan biến…

*

*      *

Trong chuyến đi Trường Sa của mình, tôi bất ngờ gặp lại người bạn vốn học cùng khóa với nhau  hồi ở trường sĩ quan Pháo binh. Đó là Phạm Quang Long - Thiếu tá chính trị viên phó đảo Sinh Tồn Đông. Ngày ấy, tôi và anh chẳng những cùng tiểu đội mà còn giường trên, giường dưới. Tôi đã nghe thấy tiếng reo đầy sung sướng và phấn khích của Long trong điện thoại khi báo rằng chỉ chút nữa thôi, Long sẽ ở cầu tàu đón cả đoàn trong đó có tôi. Tôi đã đi nhiều đơn vị trong đất liền, bất ngờ gặp lại không ít bạn, thậm chí trước đây thân hơn rất nhiều so với Long, nhưng chưa lần nào họ reo ngỡ ngàng sung sướng như thế. Long đã ôm chầm lấy tôi mà xiết chặt trong đôi tay rắn chắc của người lính biển ngay ở âu tàu như đón một người ruột thịt từ “hành tinh khác”. Đó không chỉ nhịp đập trái tim của hai người bạn mà hơn hết là nhịp đập yêu thương, nồng ấm, tin tưởng của đất liền và đảo dành cho nhau.

Văn công giao lưu với lính đảo tới khuya. Gần một giờ sáng Long mới dứt ra khỏi công việc được để kéo tôi ra doi cát phía Đông đảo ngồi. Chúng tôi lôi điện thoại ra tìm danh bạ những bạn lính của cả hai để gọi. Tôi định bảo giờ đã hơn một giờ rồi, đừng đánh thức họ dậy làm gì nhưng không kìm lại được. Ở nơi hòn đảo cách xa đất liền mấy ngày tàu biển này, thứ tình cảm thiêng liêng đang trào dâng trong lòng anh không chỉ thuần bạn cũ, mà là của Trường Sa, của những người bảo vệ đảo tiền tiêu gắn kết, bện xoắn vững chắc với đất liền. Thêm hai chiếc điện thoại - một của tôi, một của Long nữa là ba. Tất cả đều được mở loa ngoài. Đêm Sinh Tồn Đông ấy, không chỉ có hai mà một nửa trung đội 812 - K34B Pháo binh của chúng tôi góp mặt. Hết kỉ niệm cũ, cuộc sống hiện tại rồi trách nhiệm gia đình, trách nhiệm Tổ quốc… cứ liên miên mấy tiếng đồng hồ không dứt.

Thỉnh thoảng đang nói chuyện Long lại tắt máy rồi sau đó tiếp tục gọi lại. Hóa ra thuê bao trả sau Viettel đang khuyến mại 10 phút đầu gọi miễn phí. Anh bảo hầu như cả đảo đều dùng loại sim này bởi ngoài này thì lấy đâu ra chỗ mà mua thẻ trả trước. Cứ đăng kí địa chỉ ở nhà để hàng tháng vợ thanh toán.

*

*      *

Ở đảo Sơn Ca, tình cờ tôi chộp được khoảnh khắc nơi góc đảo vô cùng dễ thương của cô ca sĩ Thanh Tâm - đoàn Ca múa nhạc Công an. Lúc ấy đã chàm chàm tối, trên bầu trời xuất hiện nhiều vệt mây đen trĩu xuống. Trời lắc rắc có vài hạt mưa. Dưới tán bàng vuông xum xuê, cô ca sĩ ấy chắp hai tay trước ngực, mắt ngước nhìn trời đầy sự thành tâm. Khi ánh đèn flast của máy ánh lóe, cô mới phát hiện ra mình bị bắt gặp. Cười nhỏn nhẻn, cô thanh minh: Em lo quá anh ạ. Chỉ sợ trời mưa thôi. Lính đảo phóng khoáng và tuyệt vời quá. Khi chiều dưới xuồng lên, em phải mang chiếc va li khá nặng đựng đồ diễn. Sau khi anh chỉ huy hô giải tán, ở hàng quân ra đón, một chiến sĩ chạy vội đến trước mặt em giành chiếc va li mang hộ. Thú thật em khá bất ngờ bởi khi ấy có khá nhiều thanh niên trong đoàn đi cùng chẳng phải mang theo gì mà có ai giúp mình đâu? Hì hì. Em đang khấn trời và thần biển phù hộ độ trì cho các anh ấy chân cứng đá mềm, chắc súng giữ bình yên đảo. Cầu cho đêm nay đừng mưa để diễn hết mình cho bộ đội xem. Không biết có phải lời khấn của cô ứng nghiệm hay không nhưng quả đêm diễn ấy, trăng cứ vằng vặc sáng và cuộc giao lưu giữa lính đảo và văn công càng khuya càng nồng không muốn dứt.

Đêm đảo Sơn Ca hôm ấy thật đẹp. Biển giống như tấm nhung thẫm khổng lồ đính những dải kim tuyến lấp lánh. Tôi để lại đôi dép ở trên rồi cứ thế lội dọc bờ mặc cho nước biển mơn man dưới chân quan sát những đợt sóng nhỏ khẽ xô bờ. Giật mình, một chiếc vỏ ốc to bằng quả dâu tây ướt rượt với những vân xà cừ bắt trăng lấp láp vụt qua rồi lẫn trong vô số những hòn sỏi, san hô. Tôi nhìn theo con ốc mượn hồn mỉm cười liên tưởng tới câu chuyện trong Kinh Thánh. Khi Phêrô chữa cho một người đang què khỏi bệnh chạy nhảy tung tăng, mọi người ùa đến nhìn ông đầy ngưỡng mộ thì ông xua tay bảo rằng chính hồn Jesu đã mượn xác ông để chữa lành… Và chăng, cũng như thế, những người lính ở đảo tiền tiêu này, trong họ không chỉ họ mà có cả hồn thiêng sông núi của Tổ quốc, của Mẹ Âu, Cha Lạc. “Ốc mượn hồn đấy anh ạ. Ở đây loại ốc đó có nhiều con đẹp lắm”. Tôi giật mình ngẩng đầu lên bắt gặp đôi mắt lấp lánh trăng và nụ cười tươi của một người lính Hải quân đang ngồi chỗ bờ kè xi măng dưới tán cây phong ba bao quanh đảo. “Biển đẹp quá nên mình lang thang ngắm một chút. Sao bạn không vào trong kia giao lưu, xem văn nghệ mà lại ra ngồi ở đây?” “Hì hì. Em vừa hết ca gác. Ra đây tranh thủ gọi điện về cho vợ con. Anh Toan đâu sao không đi cùng anh vậy?”. Bây giờ thì tôi đã nhận ra, người lính đang trên bờ kè kia, chính là Lê Văn Nam - Thiếu úy chuyên nghiệp quê ở huyện Đô Lương - Nghệ An, người ngồi uống nước ở ghế đá khi chiều với tôi trong thời gian đợi Nguyễn Văn Toan – cũng là bạn cùng khóa học viên ngày xưa giờ đang là phân đội trưởng đơn vị Pháo binh của đảo Sơn Ca. Tôi tiến lại gần và đánh phệt xuống bờ kè. Có lẽ sự quen biết khi chiều, sự êm đềm, rủ rỉ  của sóng, của gió biển, cùng ánh trăng trong vắt tãi dọc bờ cát trắng khiến câu chuyện thật gần gũi và thân mật. Năm 2006 Nam cưới vợ - một cô gái ở gần nhà quen nhau từ nhỏ. Ban đầu gia đình cô hơi ngần ngại vì sợ con gái vất vả nhưng cô vẫn quyết tâm đến với anh. Hôm tổ chức ăn hỏi, gia đình anh sang nhà gái đủ lễ, đủ thành phần, nhưng nhân vật chính: Chú rể, thì thiếu! Lý do bởi trước ngày ăn hỏi anh phải nhận nhiệm vụ đột xuất. Đành gọi điện an ủi người yêu: Lễ ăn hỏi là để “tập tành” cho hôm cưới. Lính Hải quân bọn anh “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua” nên kể cả không được “tập tành” vẫn hoàn thành tốt em ạ! Vậy mà suýt chút nữa thì chàng Thiếu úy Lê Văn Nam một lần nữa không thể có mặt trong ngày cưới. Anh kể, xui xẻo làm sao, ngày cưới cũng lại đúng vào dịp đơn vị tiếp tục nhận nhiệm vụ đặc biệt, khó có thể vắng mặt. Điện thoại của gia đình, của người yêu liên tục reo. Không cách gì hoãn được nữa bởi thiếp mời đã được gửi đi cách đó cả nửa tháng rồi. Mãi đến khi cách hôm cưới một ngày rưỡi, buổi tối anh đánh liều lên thẳng thủ trưởng để xin. Sau khi nghe trình bày, thủ trưởng đồng ý cho anh đi phép. Thời gian quá gấp, muốn nhanh chỉ có cách bay ra Hà Nội rồi đi ô tô về. Cũng may, anh có người quen làm ở phòng bán vé sân bay Cam Ranh. Chín giờ đêm, hồi hộp bước lên cầu thang máy bay. 12h đêm có mặt ở Nội Bài. Tiếp tục bắt taxi về bến Giáp Bát để ba giờ sáng đi ô tô về Vinh. Đầu giờ chiều, vừa kịp đặt ba lô, hai vợ chồng sấp sấp ngửa ngửa ra ủy ban đăng kí kết hôn kẻo hết giờ hành chính! Khi bé đầu ra đời, anh đang ở ngoài đảo nên chỉ được nghe tiếng con khóc qua điện thoại. Về phép, con đã hơn hai tuổi. Dỗ thế nào bé cũng không chịu theo. Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà định đi xe máy sang bà ngoại chơi, khi vợ anh bế con ngồi lên phía sau thì cháu ưỡn ngửa khóc ngằn ngặt kiên quyết không chịu dù thường ngày rất thích đi xe máy. Cuối cùng đành phải gọi dì lên chở hai mẹ con còn anh thì đi một mình. Đêm về, bé lại tiếp tục “thử thách lòng kiên nhẫn” của “lính đảo” một lần nữa khi kiên quyết không cho bố nằm cùng giường! Thôi thì “đất chẳng chịu giời, giời đành chịu đất”. Lại lủi thủi vác chăn ra ngoài chờ con ngủ hẳn mới dám vào. Quãng thời gian ấy ôi chao sao mà dài thế! Tai dỏng như tai thỏ nghe động tĩnh xem con đã ngủ chưa. Mỗi lần nhón chân ló đầu vào “trinh sát”, gặp cái lắc đầu khe khẽ của vợ lại tiu nghỉu quay ra. Cứ như đoán được sự nóng lòng của bố mẹ hay sao mà bé mãi không chịu ngủ, bi bô bắt mẹ kể chuyện. Mất hai đêm như thế, đêm thứ ba anh mới “đường hoàng” lên nằm với con từ tối mà không nhận phải sự “phản đối” của bé nhưng cũng vẫn bị “cấm vận” bởi một chiếc chăn để giữa. Đêm đó hai vợ chồng “bàn mưu” để anh có thể “công thành” một cách nhanh nhất. Vậy là sáng hôm sau khi bé tỉnh dậy sẽ chỉ có mình anh ở nhà. Khi ấy, không theo cũng không được! Trẻ con hay lắm anh ạ - Anh cười - Ban đầu thì khó, nhưng đã quen lại sán lăn vào, suốt ngày chỉ bố bố, khi ấy thì mình đã lại phải khoác ba lô lên đường! Hồi ấy sau khi hết phép về đơn vị rồi ra đảo, mỗi lần nghe con “A nhô a nhô, bố đang ở đâu? Bao giờ bố về?” lại nao hết cả lòng!

Sự hy sinh của những người vợ ở hậu phương thật khó có gì đong đếm được. Họ là nguồn động viên lớn lao, là điểm tựa vững chắc cho những người lính ở nơi đảo xa này. Trong câu chuyện với tôi, trung tá Phạm Hùng Long chỉ huy trưởng cụm 1 - đảo Sơn Ca kể, vợ mình là cô giáo Mai Thị Tình, luôn ước ao một lần được ra đảo Trường Sa nơi chồng công tác để tận mắt thấy công việc hàng ngày của những người lính Hải Quân nơi đảo tiền tiêu, tự mình cảm nhận hết tâm trạng rưng rưng khi đứng ở phần máu thịt thiêng liêng phía Đông của đất nước này để trong những bài giảng của mình, có thể giáo dục cho các học sinh thân yêu về tình yêu Tổ quốc. Ông bà nội ngoại ở xa, để anh yên tâm công tác, cô giáo Tình đã bàn với chồng bao giờ con đầu lòng lớn, có thể trông được em thì mới sinh tiếp, vì thế, hai đứa của anh chị cách nhau gần chục tuổi. Còn Thượng úy Nguyễn Duy Trúc ở đảo Sinh Tồn Đông sẽ chẳng bao giờ quên được câu thì thầm bên tai: “Em thật hạnh phúc và tự hào về anh”. Giây phút vợ anh đặt chân lên đảo thăm chồng vào tháng 6 năm 2010 anh đã chẳng bao giờ quên được. Mỗi lần gọi điện về nhà cậu con trai nhỏ hát líu lo “Biển này là của ta. Đảo này là của ta…” và lần nào khi chuẩn bị cúp máy cậu cũng đĩnh đạc: Bố ơi! Con đang gấp thuyền để chở mẹ ra với bố đây…

*

*      *

“Ở Trường Sa có rất nhiều vùng biển nước màu xanh lá cây, do độ sâu và nền san hô trắng phía đáy được ánh nắng phản chiếu tạo nên màu sắc kỳ lạ, nhìn rất quyến rũ. Nhưng “Biển xanh màu lá” cũng còn có ý nghĩa khác, đó là biển trong mắt người trẻ, cách nhìn của người trẻ, của lính trẻ về cuộc sống, về lý tưởng, về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc...”. Đó là một đoạn mà nhà văn Nguyễn Xuân Thủy - một cựu lính trường Sa - nói về tiểu thuyết “Biển xanh màu lá”, cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về Trường Sa của mình. Quả thực giờ đây, tôi mới có dịp chứng kiến những gì anh viết trong ‘Biển xanh màu lá”. Mỗi khi tàu gần một đảo nào đó, nhìn từ trên boong, biển có những đoạn xanh lơ như màu mắt thiếu nữ Châu Âu, lại có những đoạn thẫm hơn như màu mắt các cô gái Châu Á, và không ít những khoảng biếc như ngọc bích cứ trong veo, cứ lóng lánh… Tôi đã đứng trên bong tàu gọi cho anh mà reo lên “Xuân Thủy ơi! Quả biển Trường Sa đúng là xanh màu lá!”. Còn vế thứ hai: Trường Sa trong mắt, trong cách nhìn của người trẻ là một gợi ý cho tôi tìm hiểu trong những ngày ở Trường Sa này. Thiếu úy Ngô Văn Nghĩa quê Nghĩa Hưng Nam Định bắt đầu ra đảo năm 2006, đã từng ở các đảo chìm: Đá Đông B, Tốc Tan… và giờ là Đá Tây đã dùng hơn ba mươi con ốc biển tượng trưng cho hơn ba mươi đảo, đá, cồn san hô, bãi cạn gắn thành một cây hoa hình chữ S, dùng mai mực khắc hình nổi hai người đang đứng dưới một gốc cây phong ba nhìn ra hoàng hôn biển… để tặng cho người yêu. Đám cưới của hai người sẽ diễn ra vào cuối năm nay, khi anh được vào bờ. Khi tôi hỏi anh suy nghĩ như thế nào khi làm cây hoa đầy ý nghĩa ấy, anh cười: Em chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ tự nhiên lòng mình muốn. “Chỉ tự nhiên lòng mình muốn”. Viết đến đây bỗng nhiên tôi lại nhớ gương mặt đầy phấn khích của Trung úy Hà Thế Tài - một phân đội trưởng trên đảo Trường Sa Lớn khi anh giới thiệu về sự hùng vĩ của biển đảo nơi anh đang đóng và ước mơ một ngày nào đó tất cả những đảo ấy sẽ là những “Thiên đường du lịch của Việt Nam”. Anh bảo anh yêu cái chấm nhỏ Trường Sa trên bản đồ Việt Nam từ thủa nhỏ, thế nên sau khi học hết lớp 12, khi biết có đợt tuyển bộ đội đi đảo, sợ mình nhỏ con, khó lòng trúng, hôm khám sức khỏe, anh lén nhờ cậu em họ đi khám hộ. Ngày huấn luyện tân binh xong, được về nhà thăm gia đình, khi quay lại đơn vị thì bị sốt, sợ mình không đủ điều kiện ra Trường Sa, một lần nữa, anh lại nhờ người bạn vào khám hộ để qua vòng. Khi nghe tôi hỏi về quyết tâm bảo vệ đảo khi có tình huống kẻ thù đe dọa chủ quyền, Hà Thế Tài cười rồi khe khẽ hát một câu trong bài hát về Trường Sa “Chúng tôi đứng đây gìn giữ quê hương. Biển này là của ta. Đảo này là của ta. Trường Sa, dù phong ba, dù bão tố, dù gian khổ ta vẫn vượt qua. Chiến sĩ Trường Sa, hát tiếp bài ca…”. Vâng tất cả những người lính ở đây - nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc này, không lên gân, không đao to búa lớn chỉ đơn giản vậy thôi nhưng lòng dũng cảm cũng như ý chí thép của họ luôn khiến người ta ngưỡng mộ. Tuy nhiên phía sau sự ngưỡng mộ ấy, là muôn vàn những băn khoăn trăn trở, những thúc bách của sự mưu sinh gia đình bởi đơn giản họ cũng là con người bình thường với vợ, con, cơm, áo, gạo, tiền. Có lẽ, sẽ thật khó quên cái lắc đầu và ánh mắt xa xăm nhìn ra biển của Thiếu úy Nguyễn Thanh Tuấn, quê Quảng Bình trên điểm C đảo Đá Lớn khi tôi hỏi chuyện vợ con. Cứ hết tàu rồi đến đảo để rồi dù năm nay đã bước sang tuổi ba ba mà vẫn trong tình trạng “thủy lôi chưa phóng”. Năm 2010 anh cũng đã “suýt” phóng nhưng rồi “mục tiêu” - một cô sinh viên đại học ngoại ngữ - lại “biến mất” với lý do muôn thuở: “không hợp”. Thiếu úy, Nguyễn Đình Hưng ở Trường Sa Đông, năm nay ba mốt tuổi cũng đã “năm lần bảy lượt” dò sóng tìm, cuối cùng năm vừa rồi mới bắt được “mục tiêu” - một cô giáo cấp một ở gần nhà... Chính trị viên nhà giàn DK1 Huyền Trân, Thượng úy Cao Đức Cảnh sau khi sinh cháu đầu lòng được hai tháng, anh mới có điều kiện về thăm con. Một tháng phép, chưa đủ để con quen hơi, bén tiếng thì lại phải lên đường ra làm nhiệm vụ ở nhà giàn DK1 Huyền Trân này. Con trai từng ngày lớn trong anh qua… lời kể của vợ. Khi con lẫm chẫm biết đi, biết chạy, biết bi bô gọi: Mẹ! Mẹ! Bố! Bố! thì sự mơ tưởng giây phút về thăm nhà, con trai lẫm chẫm chạy ra cổng giơ hai tay quàng lấy cổ bố cứ lớn dần trong trí tưởng tượng của anh. Rồi giây phút ấy cũng đến nhưng “kịch bản” hoàn toàn… khác. Khi vừa giơ tay ra đón, cháu khóc thét lên sợ hãi ôm ròa lấy ông bà. Sững người, anh ngơ ngác không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Rân rân. Khóe mắt tự nhiên cay xè. Mất gần tháng mới lại gần được con thì cũng là lúc lên đường… Giọng anh bỗng chùng xuống khi tâm sự với tôi về điều mà trong lòng anh đang đau đáu. Sau 4 năm yêu nhau mặn nồng, năm 2006 - cô sinh viên Lưu Thị Quyên khoa sư phạm sử - Đại học Đà Lạt, ra trường với tấm bằng loại khá đồng ý theo anh sĩ quan Hải quân vào Đồng Nai xin việc ở một trường Phổ thông trung học gần đơn vị. Đám cưới ngập tràn hạnh phúc của hai người diễn ra sau đó. Nhưng hai năm sau, do không có chỉ tiêu nên vợ anh không thể tiếp tục dạy, đành quay ngược ra Thanh Hóa là quê của hai người với hy vọng biết đâu sẽ xin được việc. Tất tả ngược xuôi, nhưng đến nộp hồ sơ ở đâu, cũng chỉ nhận được những câu đại loại như: Cứ về đi chúng tôi sẽ xem xét và trả lời. Lương thượng úy của anh thật khó để đảm bảo cuộc sống gia đình nên vợ đành phải xin làm hợp đồng cho bưu điện văn hóa xã. Gò lưng cả ngày đạp xe mà thu nhập cũng chỉ… 500 ngàn đồng một tháng. Anh khẽ nén tiếng thở dài. Em chỉ mong một ngày nào đó, vợ em được trở lại công việc dạy học, có điều kiện chăm lo cho con, để mình ngoài này đỡ lo anh ạ… Tôi khẽ cúi đầu nhìn xuống như mình là người có lỗi khi bắt gặp ánh mắt của anh đang nhìn ra những con sóng đang dồn đuổi nhau tận phía khơi xa.

*

*    *

Khi biển nhạt màu, gió đượm phù sa và những tàu lớn bắt đầu xuất hiện ngày một nhiều thì ai cũng hiểu rằng Trường Sa thân yêu đã ở phía sau. “Đó thật là những ngày đáng nhớ. Ra Trường Sa mới thấy nỗi buồn, sự bon chen ở đất liền sao mà nhỏ bé… Em sẽ kể cho bạn bè những gì mình đã được thấy, nghe trong chuyến đi này”. Cô ca sĩ đứng ở góc đảo Sơn Ca cầu trời khấn phật đừng mưa để được phục vụ các chiến sĩ trên đảo, với đôi mắt trong đầy xúc động đã chia sẻ với tôi như thế lúc đứng ở lan can khi tàu bắt đầu vào cửa sông Sài Gòn. Nhìn những lớp sóng mang phù sa cuộn đổ ra biển Đông, tôi bỗng nhớ câu thơ hào sảng, khí phách của Trương Hán Siêu:“Sông Đằng một dải dài ghê/ Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về Biển Đông…”. Biển Đông. Vẫn còn đó nỗi lo chủ quyền. “…Với toan tính và tham vọng thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông của nước ngoài, Trường Sa hôm nay vẫn chưa thực sự được bình yên. Chúng tôi xin thề trước anh linh của tổ tiên, trước hương hồn các đồng chí, quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa…” Đó không chỉ là lời của Chuẩn đô đốc Hải quân Nguyễn Cộng Hòa đọc ở lễ thả hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong sự kiện ngày 14/3/1988 khi kẻ thù tấn công đảo Gạc Ma mà là lời của cả dân tộc này

 

NGUYỄN MẠNH HÙNG



Chưa có bình luận
1
Mục: 1 - 0/0

Họ tên:
Email:
Nội dung:
Ảnh xác nhận:
 
  
 
Nguồn tin
Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội

Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội


Add: Số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội
Tell: (84-4) 8454370
Email: info@vannghequandoi.vn
Website: http://vannghequandoi.vn
Các bài cùng nguồn