Phạm Tiến Duật – thuở ban đầu
Ngày đăng:  

Năm 1965 đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, đánh phá ồ ạt vào hệ thống giao thông thủy bộ lên tận Mộc Châu, Pa Háng. Không quân Mỹ thả bom thành phố Nam Định, đánh hủy diệt thị xã Phủ Lý...

Trước tình hình ấy, Bộ Tổng Tham mưu quyết nghị nhanh chóng xây dựng hệ thống binh trạm vận tải từ hậu phương đến các khu vực tiếp giáp chiến trường. Mỗi binh trạm phiên chế gồm các đơn vị: kho, xe, làm đường, bộ binh và tác chiến phòng không... đặt dưới sự chỉ đạo chỉ huy thống nhất của Đảng ủy, chỉ huy binh trạm. Tổng cục Hậu cần giải thể các trung đoàn ô tô quân sự trực thuộc, tổ chức thành các đại đội, tiểu đoàn xe điều cho binh trạm...

Trung đoàn ôtô 225 được chỉ đạo xây dựng thành hai tiểu đoàn xe, một ở binh trạm 10, một vào binh trạm 12 hoạt động trên địa bàn Quảng Bình, theo đường 12 lên Cổng Trời sang Lào.

Tôi nhận quyết định làm chính ủy binh trạm 12, nên cũng dự cuộc họp chỉ huy trung đoàn 225 xếp cán bộ cơ quan cho binh trạm.

Anh Nguyễn Chúc, trung đoàn trưởng công bố danh sách cán bộ tham mưu, kỹ thuật đã được Tổng cục điều động, rồi nói:

- Còn cán bộ hậu cần, chính trị thì trên giao trung đoàn tự sắp xếp cho thích hợp - Anh Chúc ngửng đầu nhìn mọi người - Chúng tôi nghĩ để các đồng chí tự nguyện, vì là cán bộ ai cũng rõ trách nhiệm cả.

Phòng họp lặng hẳn. Một cách điều động cán bộ thiệt lạ (!). Lúc này Quảng Bình, Vĩnh Linh đang bị đánh dữ dội, liệu ai muốn vào (!). Phân vân nhưng tôi không nói, chỉ nghĩ: “Có lẽ trung đoàn trưởng thuộc tính anh em và cũng là cách tuyển khỏi tốn công động viên từng người...”.

Một cánh tay giơ lên:

- Tôi đi binh trạm 12!

Phó chính ủy Trạch nghiêng sang tôi khẽ nói: “Phạm Tiến Duật, giáo viên văn hóa trung đoàn”. Tôi liếc nhìn gương mặt hơi doi, khá trẻ, đôi mắt to sáng linh lợi. Tiếp theo năm, sáu cánh tay đưa lên xin vào tuyến phía Nam. Sau đó mọi người đều nói: “Tổ chức cần đến đâu cũng sẵn sàng...”.

Việc điều động thật nhanh chóng gọn gàng. Họp xong, tôi bước đến bên anh giáo trẻ, đưa tay:

- Rất hoan nghênh Duật. Nhưng tình hình trong đó dữ dằn đấy!

- Thế mới là chiến trường - Duật nắm lấy tay tôi, ngước nhìn - Anh đồng ý chứ?

Nhìn nét tỉnh bơ, không lên gân của Duật gọi tôi nhớ hai mươi năm trước, ở độ tuổi anh tôi cũng khoái câu ca: “...Tiến lên đường... tới sa trường...” mà xung phong Nam tiến. Tôi xiết chặt tay Duật:

- Gặp lại anh ở binh trạm nhé!

Phạm Tiến Duật vào binh trạm 12, hoạt động trong đội “Văn hóa lưu động” làm nhiệm vụ phổ biến chủ trương chính sách, động viên chiến đấu bằng hình thức văn nghệ. Ma Doãn Thanh, chính trị viên làm đội trưởng, Phạm Tiến Duật phụ trách hướng dẫn anh chị em viết báo tường, sinh hoạt câu lạc bộ và bình báo, bình thơ. Trần Ba có giọng ca nam trầm vang, Nguyễn Thị Hồng giọng ca nữ luyến láy mượt mà. Đội nhận nhiệm vụ từ chính ủy giao đi các kho, các đại đội công binh, thanh niên xung phong, các đại đội ô tô, trận địa cao xạ và tới các trạm chốt trọng điểm Cổng Trời, Mụ Giạ, Seng Phan...

Đội “Văn hóa lưu động” lúc đi bộ, lúc nhờ xe tải đến các điểm lưu diễn. Sau ba tháng hoạt động, đội đến được hết các đơn vị. Đến đâu Ma Doãn Thanh đều nhờ điện thoại báo cáo thủ trưởng binh trạm rõ công việc... Đơn vị nào cũng hào hứng tham gia sinh hoạt sôi nổi, các nơi đã có bảng báo, tổ ca hát. Đây là một hình thức mới của công tác chính trị, tôi cũng không ngờ đạt kết quả tốt thế!

Cuối năm tôi nhận được thư của Phạm Tiến Duật, mở ra chỉ một trang giấy ghi tặng bài “Lửa đèn”. Tôi đọc bài thơ cho anh em nghe đúng dịp Tết. Ai cũng thích xin chép vì thơ “sống” với họ, lại dí dỏm trí tuệ: ...Nơi tắt lửa là nơi in vết bánh ô tô/ Những đoàn xe đi như không bao giờ hết/ ...Nơi tắt lửa là nơi dài tiếng hát/ Đoàn thanh niên xung phong phá đá mở đường...

Khi giặc Mỹ phát hiện ngăn chặn đường 129, Bộ Tư lệnh 559 cho mở đường 128 bắt đầu từ km 56 quốc lộ số 12 vào lộ số 9. Seng Phan là một cái thung nhỏ có con sông Pha Băng Hiên chảy dọc giữa hai buôn Vàng Khôn, Pha Nốp. Bộ đội công binh mở con đường này chạy dọc thung lũng  Seng Phan tới Lùm Bùm cắt quốc lộ số 9. Lúc mới mở, đoạn đường chạy luồn dưới nóc rừng cây cổ thụ, kín bưng. Nhưng rồi, với phương tiện trinh sát điện tử, không quân Mỹ cũng phát hiện. Chúng đổ xô tới đánh bom rải thảm nhằm cắt đứt hẳn khúc đường bí mật dài gần 8 kilômét. Chỉ một mùa khô 1967, đoạn đường qua thung Seng Phan phải hứng chịu 16.372 trái bom, bình quân mỗi cây số đường nhận 2.046 trái. Tôi đến thăm lực lượng chống phá hoại tại trọng điểm ác liệt này. Rất mừng, chẳng có biểu hiện lo sợ, anh em đã có sáng kiến nắn đường uốn quanh sườn núi, đặt nhiều tổ cảnh giới máy bay và truy lùng biệt kích, bảo đảm chiến dịch vận tải. Một điều rất ngạc nhiên và thú vị, tới đâu cũng nghe anh em chiến sĩ đua nhau tấu thơ: “... Tôi từ xa Seng Phan/ Nghe bom dội đêm ngày/ Ầm ì tiếng tàu bay/ Vọng vào trí nhớ/ Tôi đến gần Seng Phan/ Tiếng bom gầm như thú...”. Tổ khác tiếp theo: “Tôi đứng giữa Seng Phan/ Tiếng cao hơn là khe núi tiếng đàn/ tiếng mìn công binh phá đá...”. Một tổ gần đó cao giọng: “Tiếng điếu cày rít lên thong thả/ Thế đấy! Giữa Seng Phan nghe tiếng bom rất nhỏ...”. Họ bá vai nhau cười ha hả. Tôi vỗ vai đồng chí công binh đang vớ ống điếu cày định làm một hơi, hỏi to: “Này cậu nào làm bài tấu thế này?” Chàng trai có cái trán dô nhướng mắt: “Thơ đấy! Chính ủy chưa nghe à?”. Tôi thú thật: “Mới nghe lần đầu. Anh em nào làm mà dí dỏm thế. Rất hay! Gởi về Ban chính trị chưa?”. Cậu ấy cười xòa: “Phạm Tiến Duật trong tổ Văn hóa lưu động binh trạm đặt thơ, Trần Ba dạy tấu đấy. Chính ủy không biết ư?”. Tôi lắc đầu: “Mới làm hử ?”. Mấy cậu đứng gần nghe hỏi, chen nhau nói: “Sau trận B52 hôm kia đấy...”, “... Ngày 26 tháng 12...”, “...Tối hôm đó Duật viết cả đêm, sáng ra đã có bài trên bảng báo...”. Bất giác tôi nghĩ “Gây được không khí lạc quan bên cái chết thì giỏi thiệt... Cần phải cho học nhân rộng cách làm này...”.

Hội nghị quân chính binh trạm xét khen thưởng thi đua hàng năm. Thủ trưởng đơn vị các ngành dự đông đủ, ai cũng đánh giá “Đội Văn hóa lưu động xứng đáng được ghi công loại A”. Lê Đình Trang chính trị viên tiểu đoàn ô tô 734 anh hùng trịnh trọng phát biểu:

- Đồng chí Phạm Tiến Duật đã làm một việc mà lâu nay công tác chính trị bỏ quên là: chọn lựa các bài báo tường, bình xét, trình diễn ngay, có tác dụng động viên khí thế rất mạnh. Đồng chí Duật đã làm thay chúng tôi, còn viết nhiều bài thơ ca ngợi chiến tích của đơn vị. Anh em khoái lắm gọi Duật là “Nhà thơ Trường Sơn”.

Tiếng hay về đội “Văn hóa lưu động” và lời đồn về nhà thơ Trường Sơn lan ra Tổng cục Hậu cần. Anh Nguyễn Tiến Lục chủ nhiệm chính trị Cục Vận tải vào binh trạm 12 nghiên cứu tình hình thực tế và ngỏ ý muốn điều Phạm Tiến Duật về phòng chính trị Cục Vận tải. Tôi rất tiếc song không xin giữ lại vì sợ mang tiếng cục bộ bản vị. Duật cũng lưu luyến không muốn ra, nhưng thời chiến  “quân lệnh như sơn” mà! Chủ nhiệm Lục đã sẵn lệnh khống chỉ của Tổng cục, điều ai thì ghi vào, cấp dưới cứ theo đó thi hành ngay. Nhưng Duật ra lại dính vào việc hành chính câu lạc bộ, tuy được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo, song có ăn nhập gì với khả năng văn nghệ của anh. Được ít tháng Duật biên thư vào cho tôi thông báo được phong cấp thủ trưởng cái kho “cờ đèn kèn trống”. Anh phàn nàn Chính ủy binh trạm không có thái độ kiên quyết giữ. Duật chấm dứt trang thư bằng câu Tưởng chừng bén nết quen lời/ Ai hay bỏ mặc cho đời vần xoay!. Tôi  hiểu anh rất buồn binh trạm buông xuôi chuyện điều động anh. Ân hận lắm, nhưng biết làm thế nào? Tôi rất tiếc tài năng công tác vận động phong trào của anh, cả độ nhạy bén rung động tình cảm cộng đồng. Ngay hôm giải thể trung đoàn, Nguyễn Chúc sẽ nhận nhiệm vụ đi công tác biên giới phía Bắc. Tôi lưu luyến, viết bài thơ tiễn biệt Chúc. Tôi đưa Duật xem, anh khiêm tốn góp ý: nên đặt tên bài thơ “Thêm gần một buổi tiễn đưa” và góp bổ sung hai câu: “Gió ơi lên Hữu Nghị Quan/ Hỏi Kỳ Cùng có nhớ Ngàn Sâu không?” và “Nhớ nhau đỏ lá quân kỳ/ Thấy nhau từng chuyến hàng đi chiến trường...” Câu thơ đọc lên, anh em xúc động lắm trước cảnh bạn chiến đấu xa nhau. Tôi bắt đầu phục tài thơ của Duật từ đấy.

Năm 1969 binh trạm 12 sáp nhập vào đoàn 559, nhân một buổi báo cáo với Bộ Tư lệnh về công tác chính trị chiến trường, tôi nhắc đến Phạm Tiến Duật và đọc một đoạn bài Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây - lúc đó chưa phổ nhạc. Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên gật đầu tán thưởng: “Thế mới là thơ Trường Sơn. Rất tình cảm, rất khí phách...”. Ông khẽ nhẩm Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn/ Hai đứa ở hai đầu xa thẳm/ Đường ra trận mùa này đẹp lắm/ Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây... Rồi ông hỏi “Sao lại để cho Duật ra công tác phía sau?”. Tôi báo cáo lúc đó binh trạm 12 còn trực thuộc Cục Vận tải Tổng cục. Trên điều anh ấy ra.

Ông Đồng Sĩ Nguyên là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, kiêm Tư lệnh Trường Sơn nên tiếng nói rất trọng lượng. Hôm ra Hà Nội họp, ông nói với Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần về chuyện sử dụng Phạm Tiến Duật: “... Con dao sắc để trong kho thì rỉ mất, phí của...”. Thế là cái “duyên Trường Sơn” lại đến với Phạm Tiến Duật. Anh được vào tuyến ngay trong mùa vận tải mới. Từ đấy Duật như say với đoàn xe, con đường ngàn dặm. Thời kỳ này tôi đã lên Bộ Tư lệnh 559 làm công tác vận chuyển. Từ đó, anh Duật viết được bài nào tâm đắc lại gởi tặng tôi. Một buổi đang giao ban, quân bưu đưa cho tôi chiếc phong bì, nói “binh trạm 34 gởi”. Tôi mở xem, chính ủy Vũ Xuân Chiêm hỏi: “Binh trạm báo cáo gì vậy?”. Tôi thưa, chỉ là bài thơ ngắn của Duật ở đơn vị xe gởi về. Ông bảo: “Đọc mọi người cùng nghe”. Tôi nói: Phạm Tiến Duật ghi lời nói của chiến sĩ lái xe ở bệnh xá, phỏng thành bài thơ Nhớ. Có nội dung: Cái vết thương xoàng mà đưa viện/ Hàng còn chờ đó tiếng xe reo.../ Nằm ngửa nhớ trăng/ Nằm nghiêng nhớ núi/ Nao nao ngồi dậy nhớ lưng đèo. Chính ủy vỗ đùi, ngoảnh sang Cục Chính trị: “Tinh thần bộ đội thế! Công tác tư tưởng phải nắm lấy mà xốc lên”.

Cuối năm 1973 tôi nhận được tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” của Duật, anh em mượn xem, chuyền tay nhau ghi chép. Khi nó trở lại với tôi thì nát rồi. Nay Phạm Tiến Duật đã đi xa vĩnh viễn, tôi vẫn giữ cuốn thơ kỷ niệm ấy để nhớ mãi ngày anh thành danh Nhà thơ Trường Sơn.

 

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG


Chưa có bình luận

Họ tên:
Email:
Nội dung:
Ảnh xác nhận:
 
  
 
Nguồn tin
Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội

Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội


Add: Số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội
Tell: (84-4) 8454370
Email: info@vannghequandoi.vn
Website: http://vannghequandoi.vn
Các bài cùng nguồn