Trong cuộc đời mỗi con người có nhiều chuyến đi. Chuyến đi ra trận, chuyến đi vào đời thường, chuyến đi lên vũ trụ, chuyến đi tới tình yêu; và có cả những chuyến đi vào cái tôi khuất nẻo, vào tâm thức sáng tạo, vào bản ngã của chính mình, như chuyến đi này.
Một chuyến đi đã đánh thức khe khẽ, dịu dàng những mầm sáng tạo đã bị cuộc sống mưu sinh, bị bụi bặm phố phường làm cho tan loãng đi phần nào. Đi không có nghĩa là chỉ chăm chăm viết cái sẽ đến mà quan thiết hơn, đi để làm sống lại những mầm ủ đang nằm sâu trong người đang bị ngủ quên.
Chuyến đi vào cội nguồn cuộc sống, vào căn nguyên số phận con người, vào hút xoáy thẳm sâu của cảm xúc nhân văn.
Một chuyến đi vào thiên nhiên hoang mạc, vào hình ảnh nguyên sơ của người lính một thời và muôn thời.
Một chuyến đi mang tính binh chủng hợp thành của trên hai chục con người mang danh kẻ sĩ, kịch sĩ, văn sĩ, nhà báo có thành tựu trong cả nước, kể cả những tác giả sân khấu lâu nay vì lý do gì đó bỗng vắng bóng trong diện mạo, hình hài của hội: Hà Đình Cẩn, Nguyễn Hiếu, Ngọc Thụ, Tạ Xuyên, Giang Phong, Kim Chi, Bích Ngân, Mỹ Dung, Lê Thu Hạnh, Thiều Hạnh Nguyên, Hà Nam Quang, Đăng Thanh, Lê Quý Dương, Vương Huyền Cơ, Sỹ Chức, Trọng Khôi, Lê Quý Hiền, Chu Thơm, Chu Lai…
Một chuyến đi trầm tĩnh, hòa đồng và không kém phần nhọc nhằn, bươn chải của hai chục cá tính, hai chục tính cách khác nhau, gai góc, sắc cạnh, nóng lạnh bất thường mà người cao niên nhất đã bước vào tuổi 73, người trẻ nhất mới dừng lại ở trên bốn mươi tuổi.
Một chuyến đi có cả niềm vui vỡ òa và nỗi buồn man mác. Có cả nụ cười và nước mắt tinh nguyên.
Chúng ta đã khóc.Vâng! Khóc vì một cơn mưa rừng bất chợt làm ta nhớ đến một thời trận mạc thương khó hào hùng đã qua và vì nỗi cô đơn, sức chịu đựng nhẫn nại, sự hy sinh thầm lặng của người lính hôm nay. Khóc khi gặp mặt, khóc lúc chia tay, khóc trong nghĩa trang tưởng niệm, khóc khi một người lính trẻ ngả đầu vào ngực nữ tác giả trung niên nghẹn ngào trong nỗi nhớ mẹ chợt đến: “Cô ơi, cô vuốt tóc con đi…”. Khóc vì cảm giác có lỗi rằng sao lâu nay cứ để mặc cho những bực dọc, lo toan đời thường đục khoét tâm hồn, thể xác mà quên đi những con người, những cảnh đời gian lao đang đêm ngày bảo vệ cho cuộc sống yên hàn ở dưới kia cho dù cái cuộc sống đó còn lắm nỗi truân chuyên còn nhiều trái ngang trắc trở. Và khóc vì đủ những nguyên do bâng quơ, bất chợt như một hành vi được đắm chìm, tắm gội lại linh hồn, như bỗng được đánh thức những cái gì mềm mại, nẻo khuất và tốt đẹp nhất vẫn đang còn ẩn náu trong đáy sâu tâm khảm. Khóc vì cuộc đời đôi khi cần phải khóc cho những điều đáng khóc để làm sạch tâm hồn, thế thôi.
Một chuyến đi xiết chặt đội hình, cái đội hình lâu nay dường như có phần rời rạc, lỏng lẻo theo dòng trôi trong đục cuộc đời, một chuyến đi nhòa chìm vào cảnh sắc cao nguyên mênh mang mà hà hơi, tiếp lửa cho nhau, cái ngọn lửa lâu nay tưởng như đã bị cuộc sống làm cho lụi tàn, đông lạnh.
Kon Tum, Pleicu, Gia Lai, Dak lak, Dak nong, Đức Cơ, Kabnon, Quảng Trực, Binh đoàn 15, Công ty khoáng sản Tây Nguyên, đồn biên phòng 725, 717, 723, đồn biên phòng cửa khẩu Lệ Thanh, đồn Phu Brăng, đồn Bu Cháp… những cái tên, những địa danh mới ngày hôm qua còn xa lạ mà nay, sao lạ thế, chỉ sau có gần nửa tháng trời chóng vánh trôi qua bỗng đã trở thành gần gũi thân quen như thể đã biết, đã hiểu lâu lắm rồi.
Một Tổng công ty 15 anh hùng cùng người tư lệnh giỏi giang vốn là lính Thành cổ 1972 đỏ lửa hai lần được phong danh hiệu anh hùng vừa làm kinh tế vừa giữ an ninh quốc phòng đã cho ta hiểu người lính không chỉ là giỏi trận mạc mà còn giỏi cả trong dựng xây. Người cách mạng chân chính không chỉ hoàn tất một vai trò lịch sử mà còn có thể hoàn tất nhiều vai trò. Cao su. Đời cây như đời người, nước mắt cây như nước mắt người, sữa cây như sữa người, người phụ bạc cây, cây sẽ chỉ cho ra những dòng sữa tong teo, buồn tủi, người thủy chung với cây, cây sẽ cho dâng cho người những bánh mủ màu vàng chanh thơm nồng bay lên biên giới, bay khắp bốn phương hùng dũng đối thoại với ngoại tệ. Hai vạn con người là hai vạn bàn tay thợ và nếu cần cũng thoắt trở thành hai vạn tay súng hiên ngang nơi biên thùy xa ngái với danh tên kiêu hãnh Binh đoàn 15 đêm ngày sẵn sàng lấy máu mình để gìn giữ những cột mốc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Chính nơi đây con người đã giải được bài toán hóc búa lâu nay rằng, bà con vùng căn cứ địa cơ cực năm xưa công lao trời bể với cách mạng như thế bây giờ không thể cứ chấp nhận cảnh nghèo vẫn hoàn nghèo như một truyền kiếp mà những cột mốc biên cương hiển hiện bằng những căn hộ một tỷ, hai tỷ đứng sừng sững nơi đường biên đã là một chứng minh hùng hồn.
Một chiến lũy biên phòng với hàng trăm khu đồn dằng dặc nơi tiền đồn hưu hắt, giá lạnh đã tạc vào trời xanh biên cương một dáng đứng bền bỉ và kiên trung của người lính mang quân hàm xanh, người lính chưa có một ngày hòa bình, biểu tượng cho phẩm chất dân tộc, điểm tựa tinh thần, chỗ dựa tâm linh cho con người Việt Nam lắm đa đoan và nhiều vất vả, cả đôi chút chao chênh thời cuộc. Là đội ngũ nổ súng đầu tiên khi non sông có giặc và cũng là đội ngũ cuối cùng tiễn các đoàn khách thân thiện ra đi, dáng đứng ấy sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự công bằng, nét sạch lành của hậu phương phía sau. Bởi người lính dẫu có cao thượng đến mấy thì họ cũng không bao giờ là vô tri gỗ đá chỉ biết cúi đầu tuân theo mọi mệnh lệnh mà họ còn có trái tim trong lành để biết rằng họ đang hy sinh cho ai, hy sinh vì cái gì.
Một công ty khoáng sản với những người thợ mặc áo lính bằng tấm lòng chân thật, tay nghề thiện nghệ của mình đã góp phần làm nhẹ đi thật nhiều màn sương mù bao phủ bấy lâu về thực chất cái gọi là màu đỏ bùn chứa bao hiểm họa mà nếu không đến tận nơi không nhìn tận mắt thì không thể nhận ra được. “Có chúng tôi đây, những người thợ chuyên nghiệp đang gồng mình làm giàu cho Tổ quốc mà nếu cần sẽ hóa thành một lữ đoàn công binh thiện chiến đánh bại bất kỳ một âm mưu đen tối nào, xin tất cả cứ yên tâm”. Người sỹ quan thượng tá giám đốc công ty, kiêm phí tổng giám đốc tham mưu trưởng tổng công ty than kháng sản đông bắc anh hùng đã xiết chặt bàn tay những nghệ sĩ nói như thế. Vâng, chúng tôi đã tin, nhìn trong mắt các anh chúng tôi đã tìm thấy lòng tự trọng và kiêu hãnh của người lính sẵn sàng đương đầu với mọi tình huống nhạy cảm và cam go nhất nếu có thể xảy ra. Bởi chuyện bùn đỏ sẽ còn được tranh cãi, sẽ còn được nhìn nhận lại với tất cả những chiều thuận nghịch khác nhau nhưng hình ảnh người lính ngày đêm tồn tại tỉnh táo ở đó mãi sẽ là một hằng số bất biến. Bằng xương máu của chính mình, của đồng đội mình người còn kẻ mất, họ sẽ không bao giờ để mảnh đất thân yêu này rơi vào một ý đồ dã tâm phi nhân nào khác.
12 ngày đêm là 12 nỗi buồn vui, 12 khát vọng làm nghề được hội tụ, thăng hoa. 12 mối tình với những điều lẻ khuất được hình thành. Có những lúc nằm trong tiện nghi yên ấm, lại có những đêm mất điện nằm 8 người một phòng trong đội hình tiểu đội, trời khuya nghe gió hú qua kẽ vách mà dội lên bao điều nghĩ suy về non sông về con người, sáng ra nhìn nhau cười như binh nhì ngơ ngác. Có những ngày ngồi xe thả người trên mặt lộ thênh thang nhưng lại có những chiều lội bùn oằn lưng đẩy xe qua chỗ lầy, mặt mũi lấm lem nhưng lại ngửa cổ cười ha hả. Những nghệ sĩ đang trẻ lại, đang hồi xuân, đang từng phút tìm được cái bản ngã một thời trẻ trung, trinh trắng, tràn căng nhựa sống một thời của mình.
12 ngày đêm trong mưa lạnh, 12 ngày đêm trong gió táp, 12 ngày đêm đảo lộn toàn bộ sinh hoạt, thói quen nhưng cũng là 12 ngày đêm không một ai bỏ cuộc, không một ai nản lòng, không một ai đau ốm, lại còn trẻ ra, tươi ra, dẫu rằng tất cả đều mang một thân hình ọp ẹp, số thuốc và số cơm đưa vào ruột gần ngang bằng nhau. Thì ra trong đáy sâu lòng họ, những phần tốt đẹp, tinh nguyên nhất của người nghệ sĩ vẫn còn lom dom ủ dấm để chỉ chờ có dịp như dịp này là bùng lên thao thiết.
Làm sao có thể quên một Mỹ Dung, nữ tác giả đang rất hot tại thành phố Hồ chí Minh với những quà tặng bất ngờ từ đáy lòng cho người lính lặng lẽ không cần ai biết, một Kim Chi gần bảy mươi tuổi đắm say như sống lại cái thời thiếu nữ đã đi qua đây vào chiến trường để tìm và để bước theo bước chân sa trường của người chồng có cái tên Hồng Sến quen thuộc đã tự bỏ tiền làm người quay phim kiêm đạo diễn, kiêm lời bình cho những thước hình sống động mà không có nó đoàn sẽ không có được những mảng biên niên sử hành trình quý giá sau này, một Hà Nam Quang bằng giọng ca Tây Nam bộ mượt mà đã làm cả đồn rơi lệ sáng chia tay, một Thiều Hạnh Nguyên, một Lê Thu Hạnh, tác giả của “Bến bờ xa lắc” vang động một thời lâu lắm mới có dịp trở lại đội hình sân khấu, phu nhân của hai đại tá thi thoảng lại hít hà: “Chao ôi lâu lắm mới được sống lại cái tình nghệ sĩ, cái cảm giác được tan hòa vào thiên nhiên vào người lính như thế này, giá như có thể kéo dài chuyến đi thêm được nữa”, một Lê Quý Dương mang thân hình Sumo kềnh càng, đã quen sống 15 năm trong tiện nghi hải ngoại hôm nay bỗng thoát xác thành một người lính tần tảo thức khuya dậy sớm, tắm nước bể, nhai cơm sáng, đã xúc động xin hiến tặng toàn bộ phục trang lễ hội gồm rất nhiều áo quần, giày dép cho bộ đội và buổi hội thảo sân khấu Việt Mỹ do anh tổ chức giữa Pleicu dẫu chưa đưa đến một kết quả sâu sắc nhưng cũng đã mở ra được một cánh cửa thông thương với kịch nghệ bên ngoài, một Lê Quý Hiền với biệt tài phát âm giọng nói Bác Hồ đã khiến cho bao chiến sĩ ngỡ ngàng, xúc động, một Tạ Xuyên tuổi 71, cả chục ngày chìm trong im lặng rồi bỗng bật hát một ca khúc chiến tranh da diết cái thời anh còn làm đoàn trưởng đoàn kịch Quân đội, một Nguyễn Hiếu vừa đoạt giải nhì kịch bản sân khấu năm 2010 “Giàn mồng tơi gẫy giập” chợt bước ra, gào nhạc, đánh hông như một chú sâu đo già quăng mình giữa các đồng đội đã gây một hiệu ứng giao thoa mãnh liệt, và đặc biệt một Ngọc Thụ mà khi lên xe từ ở nhà ai cũng ái ngại cho đôi chân ọp ẹp thế kia thì làm sao lết nổi giữa đường rừng lại bất ngờ oằn người tung chân như một người hùng vũ trường, chỉ nghe tiếng đầu gối cọt kẹt va nhau mà lo lắng đến một ca cấp cứu sắp nhỡn tiền xảy ra… Nhiều lắm để nói rằng tất cả đang trẻ ra, hồi xuân trở lại giữa đại ngàn hùng vĩ tựa những ngày nào cả nước còn mở những con đường vào trận.
Và trong gian khó, trong cảm xúc tràn vào từng mạch máu, tế bào, các ý tưởng kịch cũng bất chợt mọc mầm, nảy nở rất tự nhiên. Một “Chuyện tình Bon Xinh” của Nguyễn Kháng Chiến, người cựu chiến binh đã có thời sống và chiến đấu trên chính mảnh đất Khu 6 cam go vào loại bậc nhất này; một “Cửa số không có chấn song” của Thiều Hạnh Nguyên, người vừa rời vị trí hiệu phó trường đại học sân khấu điện ảnh quốc gia, cô Việt cộng văn công cũng đã có thời hát múa giữa bom đạn ở đây; một cảm nhận ra nơi này thật thiếu thốn tình cảm nhưng lại chính là nơi bảo vệ tốt nhất hạnh phúc gia đình của Hà Nam Quang; một ý tưởng đột phá đừng mượn những bất trắc trong cuộc sống để đánh bóng tên tuổi của mình của Hà Đình Cẩn, nhà văn, nhà báo, tác giả vừa đoạt giải nhất kịch bản sân khấu năm 2010 có cái tên là lạ “Tôi và các nhân vật phụ” vừa được nhà hát kịch Quân Đội dựng xong; một cảm nhận không phải chỉ chiến tranh mà thời bình người lính cũng tiếp tục hy sinh và chúng ta phải biết ơn sự hy sinh đó của Nguyễn Hiếu và một triết lý được vỡ ra: Trữ lượng trong lòng người mới là điều quan trọng khi đi vào vùng quặng quý hiếm của Ngọc Thụ; một Chu Thơm, tác giả của “Mỹ nhân và anh hùng” đoạt huy chương vàng tuyệt đối hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 2010 rất day dứt với suy nghĩ giữa cống hiến và hưởng thụ chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng, phải nhìn ra cái lằn ranh đó mới giữ được phẩm chất công dân; một Giang Phong tâm đắc về người lính luôn lấy sự hy sinh làm niềm hạnh phúc và chính vì thế mà họ có thể đứng vững trong mọi thời tiết xã hội chấp chênh, thậm chí là nhức nhối; một Đăng Thanh, nguyên là giám đốc sở văn hóa Ninh Bình, vị tác giả cao niên nhất đoàn lại trăn trở, thì ra lãnh thổ có biên cương nhưng lòng người lại không biên giới; một Văn Sử đau đáu với câu hỏi nặng oằn: liệu những nét gãy ở dưới kia có làm rạn nứt những tâm hồn người lính trên này và đặc biệt, nữ tác giả Mỹ Dung sau nhiều đêm thức trắng đã cho ra một đồ ăn nóng gần 40 trong kịch được hình thành ngay trong chuyến đi với tên gọi: “Ngôi nhà trong mơ”… vân vân và còn nhiều ý tưởng, cốt truyện kịch khác đang nhen nhóm và chắc chắn được bùng lên thành lửa.
Có lẽ chưa bao giờ các ý tưởng sân khấu lại được hình thành nhanh nhạy và kịp thời ngay giữa chuyến đi, giữa tim bão như thế. Thậm chí có các nhà viết kịch tuổi tác suýt soát bảy mươi nhưng vẫn bảnh mắt ra là trao đổi, là tranh cãi sôi nổi thậm chí gay gắt về một tứ kịch vừa lóe sáng trong đầu như một lớp sinh viên sắp ra trường. Phải chăng độ nóng của cuộc đời đã tiếp nhiệt cho tâm hồn nghệ sĩ, hay trước hình ảnh người lính, những cột mốc chủ quyền sống, đầu óc họ đã không thể trễ nải, vô cảm, lười nhác được.
Thành công bất ngờ của chuyến đi này thuộc về các tác giả với tâm hồn trong vắt được đánh thức đã biết vượt qua mọi khó khăn đường dài làm cuộc hành quân trọn vẹn và ắp đầy cảm xúc vào cuộc sống. Để giờ đây giữa nắng gió Buôn Mê họ có thể ngẩng cao đầu mà rằng chuyến đi vào căn cốt cuộc sống đã cán được những lằn mức đầu tiên, đội hình hành quân vẫn không hề lỏng lẻo, thậm chí còn xoắn bện hơn buổi xuất phát, để từ đó có thể tin rằng họ sẽ cho ra được những tác phẩm mang đẫm hơi thở cuộc sống, hơi thở cần lao, hơi thở Tây Nguyên, hơi thở con người nơi điểm nóng. Dẫu rằng, từ cảm xúc cho đến những trang viết là cả một quy trình vật vã, nhọc nhằn, cô đơn đang đợi họ ở nơi góc phòng im ắng. Cho dù họ đã xác định đây mới chỉ là một bản nhạc dạo đầu, một cú đi trinh sát địa hình mà muốn thấu hiểu mọi điều một cách sâu xa, ngọn nguồn, họ, từng người, từng nhóm còn cần phải trở lại ăn dầm nằm dề với hồn khí và con người Tây Nguyên một thời gian đủ dài, đủ ngấm.
Thuộc về các nhà văn, nhà báo trong đoàn với tư cách là đội quân phản ứng nhanh đã cho ra những lát cắt gửi về tòa soạn đặng kịp thời phản ảnh, khích lệ tinh thần đồng đội thân yêu.
Thuộc về sự năng động, nét duyên dáng, đắm chìm và náo hoạt của những nữ tác giả, của người chánh văn phòng Hội cùng một làm hai chức năng tổ chức và tiền bạc đã vượt lên trên hoàn cảnh riêng tư để góp phần không nhỏ cho thắng lợi của chuyến đi.
Sân khấu Việt Nam và khán giả, độc giả có quyền chờ đợi ở họ những tác phẩm cũng tràn đầy tính nhân văn, xúc động như bản chất chuyến đi
Buôn Mê ngày 26 tháng 6 năm 2011
CHU LAI