Nhìn trên bản đồ, Quảng Ninh như một bàn
chân lớn giẫm choãi ra biển Đông và những địa danh như Móng Cái, Hải Hà, Bình
Liêu là những ngón chân mộc bản bấm chặt trên biên giới Đông Bắc tiếp giáp với
nước Trung Hoa láng giềng. Từ Hà Nội, xe chạy trên quốc lộ 5, đến cầu lớn Thanh
Trì vượt sông Hồng thì quặt vào quốc lộ 1, rồi quốc lộ 18A, đi qua địa phận Bắc
Ninh, Hải Dương, vượt quãng đường dài trên trăm cây số thì tới địa giới Quảng
Ninh. Con đường về vùng Đông Bắc không xa mà hồi hộp như người dò kiếm vùng đất
mới, vùng đất vừa quen, vừa lạ và không ít điều bỡ ngỡ, băn khoăn.
Một
kiểu chào lạ… mà quen!
Chúng tôi đến thăm Công ty cổ phần Viglacera
Hạ Long nằm ngay trên biển Cửa Lục. Đã nghe nhiều lắm, nào nơi đây có anh hùng
lao động Nguyễn Quang Mâu - Giám đốc công ty, từng được nhà văn Nguyễn Đức Huệ
dựa vào nguyên mẫu viết nên tiểu thuyết “Đất dẻo”, nào những sản phẩm gạch ngói
từ vùng đất Giếng Đáy, Hoành Bồ nổi danh khắp nước từ thời Pháp thuộc, làm đẹp,
làm sang cho những công trình xây dựng khắp các miền tổ quốc.
Anh Nguyễn Văn Liễn, chủ tịch công đoàn công
ty ra tiếp chúng tôi. Anh Liễn là người quê gốc Thái Bình, lập nghiệp ở đất
Quảng Ninh từ mấy chục năm trước. Nghe khẩu khí và kiểu phát âm chữ R của anh
thì thấy “chất” Thái Bình trong anh còn đậm lắm. Xưa kia Quảng Ninh vốn là vùng
biên viễn xa xôi.
Trong số 14 huyện thị, thành phố của tỉnh
thì vùng Đông Triều, Yên Hưng là nơi có dân cư quần tụ sớm nhất, những vùng
khác dân cư thưa thớt, hoang vắng. Khi có những mỏ khai thác than đầu tiên,
hàng vạn nông dân các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An
vốn quen cầm quốc xẻng, tất bật với hạt lúa củ khoai phiêu bạt ra vùng mỏ, bỗng
chốc thành người phu mỏ, tay cầm cái choòng, cái búa, trở thành người công nhân
vì mưu sinh.
Bao năm tháng qua đi, dân tứ xứ đổ về sinh
sống quây quần trên mảnh đất Đông Bắc, làm đủ thứ nghề, đặc chất của dân vùng
đồng bằng Bắc bộ, vùng Thanh Nghệ không phải đã phôi pha quá nhiều, họ làm nên
sự đa dạng văn hóa, cốt cách của người Đông Bắc. Dòng dân thiên di đến đây đã
có thế hệ thứ hai, thứ ba, Quảng Ninh đã trở thành quê hương thực sự của họ.
Vào thăm nhà máy gạch Cotto Giếng Đáy, nhà
máy gạch Tiêu Giao, nhà máy gạch Hoành Bồ và một số xí nghiệp của Viglacera Hạ
Long, điều khiến chúng tôi ngạc nhiên không phải là những máy móc hiện đại chạy
băng băng mỗi năm sản xuất ra hàng trăm triệu viên gạch ngói, hàng triệu m2
gạch ốp lát, những kiểu máy móc lạ mắt, đủ các hình thù dị biệt mà ngạc nhiên
vì… kiểu chào.
Những công nhân xí nghiệp, mặt tươi tắn chào
lãnh đạo và khách đến thăm theo kiểu… Nhật. Họ tươi tắn, hơi thấp người xuống
một chút chào khách và trở lại với công việc rất nhanh, mặc cho ồn ã, chuyển
động, kéo mài, cuốn gói của lò sấy, lò hơi, máy dập, máy cắt, búa đập… rầm rập
bên tai. Chúng tôi chưa bao giờ thấy kiểu chào này trong một nhà máy thuần Việt
Nam,
một điều gì đó khiến người ta phải suy nghĩ mất vài giây để tìm câu trả lời.
Một kiểu quy xử rất riêng ở Hạ Long Viglacera. Không hẳn chỉ là một kiểu chào,
mà còn là văn hóa doanh nghiệp.
Nhà máy gạch Cotto Giếng Đáy là một trong
những doanh nghiệp sản xuất gạch gốm hàng đầu ở Việt Nam. Những sản phẩm đất nung đã
tiêu thụ ở khắp các tỉnh thành trong cả nước và trên 40 vùng quốc gia và lãnh
thổ trên thế giới. Anh Liễn hồ hởi khoe quốc kì của những nước có giao dịch mua
bán với nhà máy cắm thành từng nhóm trong phòng truyền thống. Gạch ngói từ vùng
Giếng Đáy nổi tiếng từ thời Pháp thuộc bao năm qua ngự trong những biệt thự cổ
kính, vẫn giữ được màu sắc trang nhã, bền đẹp.
Ai ngờ rằng những hòn đất dẻo ngoài kia qua
bàn tay của người thợ và máy móc hiện đại đã thành những viên gạch ngói chất
lượng được ưa chuộng. Sản phẩm công nghiệp của Quảng Ninh không chỉ được biết
đến là than mà còn là những mẻ gạch ngói cao cấp từ nguồn đất sét dồi dào trong
tỉnh. Ngoài những nhà máy sản xuất gạch ngói của công ty Hạ Long Viglacera còn
rất nhiều nhà máy sản xuất sản phẩm cùng loại có chất lượng cao như gạch ngói
Giếng Đáy, Yên Hưng, Đông Triều, Đất Việt… những thương hiệu mang lại niềm tự hào
cho vùng Đông Bắc.
Vân
Đồn - Minh Châu đất xưa, ngọc sáng
Chúng tôi háo hức lên đường đến huyện đảo
Vân Đồn, vùng đất cổ của Quảng Ninh, nằm trọn trong vịnh Bái Tử Long.
Cảng biển Vân Đồn là một trong những cảng cổ
nhất của Đại Việt xưa kia. Năm 1149, vua Lý Anh Tông cho lập trang Vân Đồn để
buôn bán với người nước ngoài. Thương cảng Vân Đồn sầm uất dưới triều Lý, Trần,
Lê với những giao lưu kinh tế đầu tiên của Đại Việt với thế giới bên ngoài.
Thuyền buôn nước ngoài cập cảng Vân Đồn đến từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ấn Độ,
Indonesia, Trung Quốc… và ngay cả danh tướng Trần Khánh Dư cũng từng có vụ buôn
nón Ma Lôi có tiếng ở vùng biển này. Đất Vân Đồn cũng là trong những cái tên
được nhắc đến nhiều nhất trong các cuốn địa chí viết về vùng Đông Bắc.
Đi dọc theo những triền đồi uốn cong, gió từ
biển thổi vào mát lộng, cảm giác lãng đãng quen thuộc như đang đứng ở bất kì
đâu trên mảnh đất biển đảo quê hương. Biển nơi nào cũng có những nét thân quen.
Biển đơn sơ mà thân thuộc từ lâu.
Vân Đồn cũng chính là địa điểm tướng Trần
Khánh Dư đánh tan đội thuyền lương của Trương Văn Hổ trên sông Mang năm 1288,
tạo bước ngoặt quan trọng cho chiến thắng Bạch Đằng. Một vùng biển đảo yết hầu.
Tôi cứ băn khoăn không biết trong những doi đất quanh co trên đảo nơi nào là
chỗ tướng quân đã từng ém quân đánh trận mai phục nổi tiếng(?)
Cảng Vân Đồn có nhiều tàu bè, thuyền đánh
cá. Ngư dân đang hối hả chuyển những sọt cá lên bờ cho tươi ngon, kịp mang vào
chợ. Tiếng mua bán, mặc cả, ỉ eo cả một vùng nước, thứ âm thanh lâu đời nhất, ám
ảnh nhất của khởi thủy buôn bán, giao thương ngày xưa.
Tàu cao tốc đưa chúng tôi ra đảo Quan Lạn,
một đảo lớn nổi tiếng của Vân Đồn. Kĩ sư Nguyễn Trọng Hiếu, cán bộ ở văn phòng
tỉnh ủy Quảng Ninh, người may mắn được đi nhiều vùng biển đảo bảo tôi: “Trước
đây đi ra Quan Lạn ngại lắm, mất cả mấy tiếng đồng hồ, nay đi tàu cao tốc chỉ
bốn lăm phút là đến nơi, nhanh lắm”.
Tàu cao tốc của công ty Vân Sơn lướt trên
mặt biển như một mũi tên. Anh lái tàu vui tính vừa điều khiển tàu vừa nói
chuyện oang oang. Một kiểu giao tiếp mộc mạc đặc trưng người vùng biển. Tôi
ngồi cạnh một thiếu phụ bế đứa con trong lòng, thằng bé đang thiu thiu ngủ, mặc
cho con tàu dập dềnh lướt như bay trên vịnh Bái Tử Long. Khuôn mặt thằng bé
hồng hào bình thản, mẹ cháu đưa cháu về thăm bà ngoại trên đảo Quan Lạn vào Chủ
nhật bằng tầu cao tốc cho tiện, ngày mai chị vẫn kịp quay về Hạ Long làm việc.
Biển đảo Hạ Long, Bái Tử Long có cái lạ, tàu
lướt đi như bay, cứ tưởng như tầu đang đâm vào vách đá trước mặt nhưng lạ thay
cứ đến gần thì đảo lại mở ra một cánh cửa rộng trước mắt. Tàu đi trong đảo đá
chập chùng mà không lạc lối. Tôi chợt nhớ câu thơ của Nguyễn Trãi viết về cảnh
sắc Vân Đồn: Lộ nhập Vân Đồn san phục san/ Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan...
Nguyễn Trãi đã dùng từ “kì quan” cách đây hơn 500 năm.
Quảng Ninh là tỉnh có số lượng đảo lớn nhất
cả nước với hơn hai nghìn đảo lớn nhỏ chiếm hơn 2/3 lượng đảo của toàn quốc,
trong đó vịnh Hạ Long có 1969 đảo, huyện Vân Đồn có 600 đảo. Còn hàng ngàn đảo
đá chưa được đặt tên, đi qua những đảo đá trên vịnh mà cứ ngỡ ngàng, không biết
gọi bằng gì. Có lẽ nên mở một cuộc thi cấp quốc tế để đặt tên cho những đảo đá
ở đây, biết đâu sẽ thu hút thêm nhiều khách du lịch và biển đảo vùng Đông Bắc
càng thêm danh bất hư truyền.
 |
Bãi biển Minh Châu
|
Bãi biển Minh Châu là một trong những bãi
biển đẹp và hoang sơ nhất nước. Biển Minh Châu dài khoảng 2km, nước biển trong
ngần, cát trắng muốt, đi không dính chân. Biển Minh Châu sóng không mạnh mẽ như
biển Sầm Sơn, không bao bọc bởi những đá núi sừng sững quanh co như biển Cát
Bà, không chói chang, vàng rượi như biển Nha Trang, cũng không dốc mạnh, ràm
rạm như biển Quy Nhơn.
Minh Châu có cái riêng mà ai cũng nhận ra
ngay, đó là sự nguyên sơ, vắng lặng. Cát trắng, nước biển trong suốt và còn ít
dịch vụ đi kèm. Minh Châu là tên một loại ngọc nhưng viên ngọc còn mang nét tự
nhiên, mộc mạc chưa được mài giũa nằm ngay giữa một vùng biển đảo mênh mông
vùng Đông Bắc.
Buổi chiều tối khi đi dạo từ biển về, chúng
tôi gặp chị Nguyễn Thị Oanh, nhà ở ngay bãi biển Minh Châu đang đi bắt và thu
gom sá sùng. Những con sá sùng to mọng, đỏ ửng, to cỡ ngón tay đang cuộn tròn
quấn quýt vào nhau trong chậu. Sá sùng là loài thân mềm thuộc họ giun biển, đặc
sản của vùng biển đảo Quan Lạn, độ đạm cao và rất ngọt. Chỉ cần bỏ vài con sá
sùng vào nồi canh thì không cần nêm bất cứ loại bột ngọt nào.
Đặc biệt là sá sùng khô rang lên mà lai rai
thì ăn một lần là nhớ mãi. Ngon, ngọt, hương vị khác tất cả các cao lương mĩ vị
khác. Giá một cân sá sùng tươi ngon ở ngay đảo Quan Lạn bán với giá 400 nghìn
đồng, sá sùng khô loại ngon là 4 triệu đồng một cân, có khi lên đến 5 triệu vào
dịp hiếm hàng hoặc dịp Tết. Sá sùng là nguồn hải sản đang làm tăng thêm thu
nhập cho người dân đảo nhưng những thứ quý hiếm mà cứ đánh bắt mãi, dần cũng…
hết.
Chị Oanh cho biết bây giờ mỗi hôm chỉ đào
được dăm ba lạng sá sùng mà thôi. Chị phải đi mua gom của những người khác, cả
buổi cũng chỉ được độ hai ki lô gam. Sá sùng bắt về lấy cây đũa nhỏ xỏ qua
ruột, lộn hết cát, chần qua nước sôi và qua một đêm là có sá sùng khô. “Của quý
thì cũng có ngày cạn kiệt, biết đâu vài năm nữa có khi chẳng nhìn thấy sá sùng
đâu nữa”. Câu nói của người đàn bà biển đảo bất chợt gieo vào tôi nhưng suy
nghĩ vẩn vơ...
Một giờ với Bí thư tỉnh ủy
Khi
chúng tôi hẹn làm việc với đồng chí Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh Vũ Đức Đam, những
tưởng sẽ là một nhân vật chính trị với những khuôn mẫu thường thấy trong các
cuộc tiếp xúc với văn nghệ báo chí nhưng khá bất ngờ, anh cởi mở và chia sẻ
những cảm nhận rất riêng tư về vùng mỏ với các nhà văn quân đội. Anh bộc bạch:
“Ấn tượng sâu sắc nhất của mình về vùng than là những đôi mắt nâu thợ mỏ”.
Hình
ảnh những người thợ mỏ từ lâu đã đi vào lòng độc giả cả nước với những tiểu
thuyết, truyện ngắn của Võ Huy Tâm, Tô Ngọc Hiến, Lí Biên Cương, Trần Nhuận
Minh… với những bức tranh hoành tráng về vùng mỏ, những vui buồn của cuộc sống
người thợ. Đồng chí bí thư bảo các nhà văn cứ đứng trước một ca tan tầm của thợ
mỏ mà xem, hàng trăm thợ mỏ vừa ra khỏi lòng đất, trên người họ phủ một lớp bụi
than và điều nhận thấy đầu tiên là đôi mắt, đôi mắt rất khác biệt, không phải
đôi mắt đen láy nhãn lồng mà mắt nâu đặc sệt người Á đông.
Người Quảng Ninh mang trong mình cốt cách
vùng biển, thừa hưởng từ di sản văn hóa truyền thống và biến động của lịch sử.
Vùng biên ải Đông Bắc từng mang những cái tên ghi đậm dấu ấn của biển như Triều
Dương vào thời Đinh, Tiền Lê; Lục Thủy, Hải Đông, An Bang vào thời Lý, Trần; An
Quảng, Hải Ninh vào thời Nguyễn và là địa bàn sinh sống của những người có cá
tính mạnh mẽ, thậm chí một chút ngang tàng.
Vua Lê Thánh Tông trong An Bang phong thổ đã
từng viết: Ngư diêm như thổ, người xu lợi/ Hòa đạo vô điền thuế bạc chinh. (Cá
muối nhiều như đất, người dân chạy theo nguồn lợi/ Lúa má không có ruộng cấy
nên thuế khóa nhẹ). Đến những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, cùng với cuộc
khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai của thực dân Pháp, Quảng Ninh
trở thành vùng công nghiệp khai khoáng, nơi hình thành và phát triển phong trào
công nhân vào loại sớm nhất của cả nước. Tính cách của công nhân vùng mỏ bộc
trực, thẳng thắn phù hợp với điều kiện sinh sống công nghiệp được hình thành từ
sớm theo biến chuyển của lịch sử.
Ở vùng đất với hơn một triệu dân và tỉ trọng
công nghiệp, xây dựng chiếm tới 54% cơ cấu ngành kinh tế, mặc dù công nhân mỏ
không phải lực lượng lao động đông đảo nhất nhưng luôn là bộ phận có đặc trưng
rõ nét nhất, cụm từ “thợ mỏ” luôn được nhắc đến với vị thế tự hào.
Ở Quảng Ninh công nghiệp và môi trường luôn
là đề tài nóng và chúng ta không thể né tránh, đồng chí bí thư thẳng thắn. Thậm
chí chúng ta phải hi sinh một số quyền lợi địa phương để phục vụ lợi ích chung
của xã hội, của cộng đồng. Quảng Ninh đã mạnh dạn trong việc xây dựng các nhà
máy nhiệt điện để phát huy nguồn nhiên liệu sẵn có và giảm tải sự vận chuyển
than gây ô nhiễm môi trường.
Hiện tại, Quảng Ninh đã có và đang xây dựng
các nhà máy điện Uông Bí, Mông Dương, Mạo Khê, Cẩm Phả… Nhiệt điện là một trong
những ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất và vùng than Đông Bắc trở thành một
trong những trung tâm năng lượng lớn của cả nước, việc phát triển này đôi khi
cũng cần cân nhắc một sự hi sinh cần thiết.
Tôi nhớ một bộ phim nước ngoài nói về việc
xây dựng nhà máy thủy điện ở những giai đoạn ban đầu. Khi nhà máy thủy điện
đang được xây dựng thì một số công nhân khoan hầm đã hít phải khí độc mà chết,
ba người chịu trách nhiệm chính ở công trường là ông giám đốc, kĩ sư trưởng và
bác sĩ công trường phải ngồi lại với nhau cân nhắc một bài toán quan trọng.
Nếu công bố sự thật ngay lúc đó, nhà máy
điện sẽ bị ngưng lại, dự án sẽ bị phá sản, thiệt hại về kinh tế vô cùng lớn,
thành phố sẽ không có điện và sự phát triển của thành phố sẽ tụt lại rất nhiều.
Và sau rất nhiều tính toán ba vị trên đã quyết định tạm chấp nhận sự hi sinh,
thông báo rằng số công nhân chết do bị ốm và tiếp tục xây dựng nhà máy.
Và trong ngày vinh quang long trọng nhất của
nhà máy, niềm vui của cư dân thành phố, dòng điện thắp sáng lòa thì ông giám
đốc, vị kĩ sư trưởng và bác sĩ công trường đã đứng lên nói sự thật về sự hi
sinh của những người công nhân đầu tiên và xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Cả
hội trường lặng đi, nỗi đau của gia đình những công nhân bị chết vì khí độc, họ
cũng đang định khởi kiện vì nghi ngờ cái chết của người thân.
Ba vị đứng lặng, chờ đợi sự phán quyết của
nhân dân, của lương tâm và cuối cùng nhân dân thành phố, chính quyền, gia đình
những người công nhân đã hi sinh vì dòng điện quyết định miễn thứ cho ba người
sau khi cân nhắc kĩ lưỡng công tội. Mọi so sánh đều là khập khiễng nhưng ở một
góc độ nào đó Quảng Ninh đang làm những việc có thể là khó khăn với mình để
mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng và trách nhiệm một vùng đất giàu tiềm năng
về năng lượng, đang điều hòa phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường.
Câu
chuyện ở mỏ than hầm lò sâu nhất
Mỏ than Hà Lầm, cái tên từng dễ liên tưởng
tới một miền xa lắc u mê trong quá vãng. Những địa danh đặc trưng ở vùng mỏ như
Cẩm Phả, Hòn Gai, Vàng Danh, Mạo Khê gợi nhớ một chặng đường dài lịch sử của
ngành than khi Công ty Pháp mỏ than Bắc Kì (SFCT) thành lập năm 1886, chiêu mộ
nông dân từ khắp các tỉnh Bắc bộ, Trung bộ ra làm phu mỏ. Và các mỏ than ở vùng
Đông Bắc khi đó đều nằm trong tay người Pháp và người Hoa. Từ một mỏ than có
lịch sử từ thời Pháp thuộc, mỏ than Hà Lầm nay đã trở thành Công ty cổ phần
than Hà Lầm, một trong những đơn vị mở vỉa bằng giếng đứng ở mức âm 300m, mức sâu
nhất trong hệ thống khai thác than hầm lò ở Việt Nam.
Mang sẵn cảm giác háo hức khám phá lòng đất
nên khi kĩ sư Trần Mạnh Cường, phó giám đốc công ty cổ phần than Hà Lầm dẫn
chúng tôi đi thực tế một trong những cửa lò lắp hệ thống cơ giới hóa vận chuyển
công nhân và vật tư bằng monoray do cộng hòa Séc sản suất, ai nấy đều phấn
khích, hồi hộp. Cửa lò như một cái giếng tối om, giống như miệng của một con
thú khổng lồ chờ đợi hút tất cả những gì đang đứng gần nó nhưng trên khuôn mặt
người thợ mỏ hiển diện sự bình thản, sẵn sàng.
Thợ mỏ ngồi trên những ca bin từng đôi một,
chờ cho tiếng đường ray lạch xạch đi sâu vào lòng đất như một cuộc chinh phục
ngoạn mục đi bắt thủy thần trong lòng đất. Những công nhân trẻ, những chàng
trai còn lún phún lông tơ trên má, như Thạch Sanh đời thường, bình thản và lặng
lẽ đi sâu vào lòng đất, khoan vào những gương than hình thành từ hàng trăm
triệu năm bởi những rừng dương xỉ khổng lồ ở kỷ Carboniferous, mang nguồn nhiên
liệu hóa thạch quý giá về cho tổ quốc.
Chẳng phải ngẫu nhiên, từ lâu than đã được
coi là “vàng đen” của tổ quốc. Than dùng để đốt lò nhà máy điện, luyện thép,
dùng trong nhiều ngành công nghiệp, trong sinh hoạt hàng ngày và xuất khẩu.
Trước khi có khai thác dầu khí và cởi mở
trong phát triển kinh tế, than là một trong những nguồn thu ngoại tệ chủ lực
cho quốc gia. Mỗi năm các đơn vị khai thác than trên địa bàn Quảng Ninh sản
xuất ra trên 40 triệu tấn than sạch, phục vụ các nhu cầu trong nước và xuất
khẩu.
Lương thợ lò Hà Lầm từ 12-14 triệu đồng và
những nhu cầu thiết yếu tắm giặt, ăn nghỉ được chăm lo chu đáo cho những người
thợ cần mẫn làm việc ở sâu trong lòng đất. Than Hà Lầm là một đơn vị điển hình
khai thác hầm lò, than hầm lò chiếm tới 2/3 trong tổng lượng than khai thác của
công ty.
Khi quan sát hệ thống monoray đưa những
người thợ ra khỏi hầm lò, chúng tôi chứng kiến niềm vui giản dị của người công
nhân được trở về mặt đất sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình. Lắng nghe thấy
tiếng nói nhỏ nhẹ, dứt khoát của nữ công nhân trực ban theo dõi phòng điều khiển
màn hình camera đặt dưới hầm mỏ, đang hướng dẫn thợ mỏ ra vào, lên xuống khi
tàu đi vào.
Từ phòng điều khiển phát đi những bản tình
ca hay nhất về vùng mỏ suốt cung đường thợ mỏ xuống tới hầm sâu, tất cả những
điều ấy khiến chúng tôi hiểu được phần nào hàm ẩn phía sau những khuôn mặt
người thợ bình thản, lặng lẽ đang đi sâu vào lòng đất.
Không kìm được lòng, tôi thì thầm hát theo
bài hát truyền thống được coi là hay nhất của vùng than Tình ca người thợ mỏ
của nhạc sĩ Hoàng Vân. “Miền Đông thân yêu tiếng súng đang vang rền, trong mỗi
ca lao động của người thợ mỏ, của vùng than có khí thế Chi Lăng, Bạch Đằng lịch
sử, nghe tha thiết trong tâm hồn, thợ mỏ vào ca cũng là chiến sĩ, trung đoàn
năm xưa nay đã thành sư đoàn. Quảng Ninh thân yêu ơi! Trong tình yêu quê hương
có một tấm lòng, dành cho em người mà anh yêu quý vô cùng…”
Và
vùng than đã sản sinh ra bao lớp ca sĩ nổi tiếng, từ Lê Dung, Quang Thọ cho đến
Hồ Quỳnh Hương, Nguyễn Ngọc Anh, Hà Hoài Thu… những người ít nhiều trưởng thành
từ phong trào ca hát ở vùng mỏ thân thương.
Và
nói đến Quảng Ninh mà không nói đến bụi than thì còn chưa… nói hết. Bụi than
từng là điều phiền muộn nhất của người dân Quảng Ninh, nhưng bụi than đang dần
được khắc phục, những xe chở than không còn được phép chạy trên quốc lộ 18A. Những
băng chuyền vận chuyển than ống kín đang dần thay thế những xe chở than truyền
thống, những nhà máy sàng tuyển than gây ô nhiễm sẽ được chuyển ra khỏi khu dân
cư.
Những khu vực được coi là “thánh địa” của
than và bụi than như Cẩm Phả, Hạ Long, Uông Bí, Mạo Khê đang bớt dần đi bụi bặm
và người dân dần có thiện cảm hơn với môi trường ngành than. Suy nghĩ khác về
vùng than, thiện cảm gần gũi với môi trường vừa là nhiệm vụ, hành động và lương
tâm với cộng đồng, để chúng tôi mãi tự
hào là con em vùng mỏ. Nơi có vịnh Hạ Long hai lần được công nhận là di sản
thiên nhiên thế giới về cảnh quan tự nhiên và giá trị ngoại hạng về địa chất
địa mạo, nơi có núi Yên Tử hùng vĩ, quê hương của thiền phái Trúc Lâm và những
danh sư như Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang…
Nhiều điều muốn nói nhưng chúng tôi muốn
nhắc lại câu nói của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Quảng Ninh là hình ảnh của
nước Việt Nam thu nhỏ” và ở
đất nước Việt Nam
thu nhỏ ấy, những lớp trầm tích văn hóa lịch sử và thiên nhiên đang rạng sáng
thêm mỗi ngày.
UÔNG TRIỀU