Gần hai mươi năm trước, tôi đã một lần đứng trước cổng trường này – ngôi trường nằm trên con đường Nguyễn Oanh lúc nào cũng ồn ào, tấp nập xe cộ và đầy bụi bặm giữa thành phố Hồ Chí Minh luôn sôi động. Không phải một mình tôi mà cả đoàn vài chục người từ miền Tây lên để đăng ký thi học trung cấp kỹ thuật quân sự. Cái cổng trường chỉ là hai trụ xi-măng rêu phong, vài chỗ tróc vôi vữa, có một cái bảng lớn ghi chữ: “Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Vin-hem Pich” bạc màu, lấm tấm bụi cát. Không có cửa rào hay cửa kéo, chỉ có một cây tre làm ba-ri-e nằm chắn ngang cổng để mỗi khi có xe vào, chiến sĩ cảnh vệ phải tháo khỏi chốt gài, rồi nắm sợi dây đã buộc chặt đầu này để nó từ từ bật lên nhờ tảng đá treo lủng lẳng đầu kia. Mà mỗi lần xe vào, đồng chí cảnh vệ phải hứng chịu “trận bão bụi” cuồn cuộn dâng lên sau xe mù mịt. Nhìn sâu vào bên trong là những dãy nhà tường nằm dọc ngang cũ kỹ, thâm thấp, mái lợp típ-rô xi-măng như những chiếc hộp. Xung quanh đầy những lau sậy cao đến đầu người. Ngồi trên xe nóng hầm hập, tôi hơi phân vân. Quay sang Tuấn, tôi nói thẳng: “Chắc tao xin về quá, không học đâu. Mày thấy đó, tao ở đây tới ba năm chắc… chết!”. Thằng Tuấn cười: “Lúc đầu mày hăng hái lắm mà, sao giờ sợ. Mày chịu cực ba năm, sau này ra làm sĩ quan, không sướng hả? Cậu tao học ở Hà Nội còn cực khổ hơn nữa. Trời nắng thì… héo da, quéo người luôn. Còn trời lạnh thì… teo hết trơn. Cậu nói được học trong này là nhất đó!”. Nhất nhì gì cũng ngán. Từ nhỏ đến giờ, tôi đã quen với đồng bãi, sông nước. Khát nước có thể vốc nước ruộng uống ừng ực. Trưa hè nhảy ùm xuống sông tắm thoải mái. Giờ nhìn hơi nước loang loáng trên mặt đường ngỡ… sa mạc trên ti vi.
Đó là chuyện trước đây, còn bây giờ thì khác rồi. Tôi không nhận ra đâu là bãi đậu xe, đâu là nhà chờ làm thủ tục, đâu là nhà nghỉ tạm chờ biên chế, chờ về đơn vị cũ. Hoàn toàn xa lạ với một hệ thống nhà làm việc kiên cố, phòng nghỉ khang trang, giảng đường hiện đại. Rồi khu thể thao, tăng gia, nhất là “công viên mini” rợp mát nhờ những cây cổ thụ rộng tán dành cho học viên, sinh viên nghỉ ngơi, nghiên cứu bài vở. Hình như, chỉ cái cổng là ở vị trí cũ, nhưng nay đã được xây dựng cửa rào, bảng biểu bề thế và vững chắc hơn, tạo thành gương mặt mới tuy không son phấn mà cứ sáng đẹp rỡ ràng, đặc biệt là bảng tên: “Trường Đại học Trần Đại Nghĩa”!
Trường Đại học Trần Đại Nghĩa? Phải, nghĩa là chưa đầy một năm kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định nâng cấp từ cao đẳng lên đại học. Hồi đó, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, trường được Tổng cục Kỹ thuật tiếp quản và xây dựng thành Trường Sơ cấp Kỹ thuật. Ngay từ buổi đầu sơ khai, trường đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên kỹ thuật hệ II cho các đơn vị phía Nam với các chuyên ngành: vũ khí, đạn, xe quân sự. Thế rồi theo thời gian, nhà trường từng bước được nâng dần lên về số lượng, chất lượng, quy mô đào tạo theo sự phát triển chung của đất nước, đáp ứng yêu cầu quân đội trong tình hình mới. Từ Trường Sơ cấp Kỹ thuật đến Trường Hạ sĩ quan Kỹ thuật, Trường Sĩ quan Kỹ thuật Vin-hem Pich, rồi Trường Cao đẳng Kỹ thuật Vin-hem Pich, Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Vin-hem Pich, và bây giờ là Trường Đại học Trần Đại Nghĩa. Song, cho dù mang tên nào đi nữa thì mục tiêu của nhà trường cũng không thể tách rời chức năng đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, từ sơ cấp, trung cấp đến cao đẳng, đại học, cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Dĩ nhiên, ai cũng nghĩ rằng đó là một thế hệ những người thầy và trò mỗi ngày phải tiếp xúc với các loại vũ khí bộ binh, với pháo mặt đất, pháo phòng không, đạn dược, với tăng – thiết giáp, khí tài quang học, đo lường, cơ khí, cả tên lửa, ô tô… Những khối sắt thép khô cứng và nặng nề. Những lều thuốc và hóa chất nồng nặc mùi đặc trưng. Những tính toán chi li trên từng zem một. Có điều, ít ai biết rằng, không ít học viên, sinh viên của trường đã từng đạt giải thưởng chẳng liên quan gì đến chuyên ngành súng pháo hay đạn dược.
Thạc sĩ, Đại úy Trần Hoài Nhân, Trưởng bộ môn Toán - Khoa Khoa học Cơ bản, khẳng định:
- Nếu tôi nhớ không nhầm thì trường đã cử học viên, sinh viên tham gia gần mười kỳ Olympic toán học toàn quốc và đều đạt giải, năm sau cao hơn năm trước. Từ năm1991 đến năm 2007, trường đã tham gia thi môn toán, cơ lý thuyết và tin học đạt 1 giải nhất, 8 giải ba và 27 giải khuyết khích. Trong ba năm gần đây, năm 2009 và 2010, trường dự thi hai môn giải tích và đại số, kết quả đạt bốn giải ba và bốn giải khuyến khích; năm 2011 dự thi môn đại số đạt một giải nhì và một giải khuyến khích.
- Tuy đã vượt lên một bậc nhưng số lượng giải thì… ít hơn? - Tôi đưa đẩy câu chuyện.
Chàng thạc sĩ ba mươi bốn tuổi đời đã qua Học viện Kỹ thuật Quân sự và Đại học Tổng hợp Hà Nội chuyên toán, nói ngay bằng giọng đậm chất xứ Nghệ, có vẻ phân trần:
- Năm 2011, trường mới nâng cấp từ cao đẳng lên đại học nên còn nhiều thứ bộn bề, do đó chỉ tham gia thi một môn thôi. Vả lại, kỳ thi Olympic toán học sinh viên toàn quốc là kỳ thi dành cho tất cả các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài quân đội, trong đó có nhiều trường đại học lớn chuyên đào tạo toán học với đầu vào của sinh viên rất tốt. Trước khi tham gia chúng tôi cũng phải lượng sức mình chứ! Trước công việc chuẩn bị ra mắt trường đại học, với khoảng thời gian ôn luyện không quá hai mươi ngày nên trường chỉ tham gia thi môn đại số. Cũng cần phải nói thẳng rằng, tuy kết quả đạt được chưa cao nhưng rất đáng khích lệ, đó chính là sự cố gắng học hỏi và niềm đam mê toán học của các em sinh viên. Mặc dù là một trường kỹ thuật, khối lượng toán học trong chương trình không nhiều và đầu vào cũng không phải chuyên toán, nhưng các em đã chịu khó nỗ lực cùng với giáo viên hướng dẫn tìm tòi, suy nghĩ trước những bài toán khó, những dạng toán mới lạ, hóc búa. Bên cạnh đó, ngoài thời gian học chính khóa, các em còn phải chấp hành và duy trì thời gian sinh hoạt tập thể của một học viên trong trường Quân đội. Vì vậy, kết quả còn khiêm tốn nhưng vẫn đáng tự hào, chứng tỏ rằng Nhà trường không chỉ chuyên súng pháo và đạn dược như người ta vẫn nghĩ!
Đại úy Trần Hoài Nhân giới thiệu với chúng tôi Binh nhất Trịnh Văn Minh, 19 tuổi, hiện đang học năm thứ nhất, hệ cao đẳng, chuyên ngành vũ khí. Quê Minh ở Thanh Hóa nhưng do điều kiện kinh tế nên chuyển vào Nha Trang sinh sống. Là con út trong gia đình có hai anh em, những năm học phổ thông Minh đều đạt danh hiệu học sinh xuất sắc. Ngay khi tổng kết năm học đầu tiên ở trường, điểm trung bình các môn của Minh là 8,0. Trên gương mặt vẫn chưa hết niềm vui với giải nhì môn đại số Olympic toàn quốc vào tháng 4 vừa qua, Minh kể:
- Em phải trải qua một kỳ thi của Nhà trường mới được chọn vào đội tuyển Olympic. Trong một thời gian ngắn, em vừa ôn luyện cùng thầy Nhân, vừa bảo đảm chương trình học song song các môn đại cương nên cũng giảm bớt phần nào tập trung cho kỳ thi. Quá trình thi, em đã cố gắng để đạt kết quả cao nhất.
Tham gia kỳ thi Olympic vừa qua với Trịnh Văn Minh có Binh nhất Trương Quang Tú, 20 tuổi, đang học năm thứ nhất chuyên ngành ô tô, Tú đạt giải khuyến khích. Là con của người lính từng chiến đấu ở chiến trường Cam-pu-chia, nay buôn bán tạp hóa ở Quảng Trị, Tú không cần ba định hướng tương lai cho mình. Sau khi tốt nghiệp trung học, mãi đến năm thứ hai Tú mới thi đậu vào Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Vin-hem Pich. Sau một năm rèn luyện, học tập tại trường, cả Tú và Minh đã được học lớp bồi dưỡng đảng viên mới.
Cùng tuổi với Trương Quang Tú có Hạ sĩ Nguyễn Ngọc Huy, quê Yên Bái, hiện đang học năm thứ hai chuyên ngành Tăng - Thiết giáp ở Tiểu đoàn 1. Hai năm trước, Huy cũng thi vào Học viện Kỹ thuật Quân sự nhưng thiếu… nửa điểm. Không từ bỏ ước mơ, Huy chấp nhận vào Nam học cao đẳng. Huy cho rằng, trong quá trình học tập tại đây, ngoài cơ sở vật chất tốt, mô hình tranh vẽ sinh động, Nhà trường còn bố trí khá nhiều thời gian nghiên cứu, tìm hiểu trang thiết bị, nhất là các phương tiện bộ đội ta đã sử dụng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, khó khăn nhất là khi mới bắt đầu tiếp xúc với môn cơ sở ngành. Bởi thực tế có điểm chưa tương đồng nên đòi hỏi phải hiểu rõ lý thuyết để vận dụng vào thực hành, đôi khi có bài học mơ hồ và trừu tượng lắm, phải nhờ đến sự liên tưởng mới thông suốt.
Có lẽ, mơ ước cháy bỏng và ý định học chuyên ngành kỹ thuật quân sự luôn thôi thúc với quyết tâm đạt được chỉ có ở Hạ sĩ Đỗ Chí Công, 25 tuổi, quê Hưng Yên, hiện đang học vũ khí bộ binh năm thứ hai. Tốt nghiệp trung học, Công thi vào Học viện An ninh nhưng thiếu điểm, song, lại đủ điểm vào Đại học Công nghiệp Hà Nội. Học được hai năm Công nghỉ để chuẩn bị thi đại học quân sự, tiếc là đã quá tuổi. Không nản, năm 2008, Công đăng ký nhập ngũ, sau đó được biên chế về Đại đội Cảnh vệ, Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp. Năm 2009, Công thi vào Học viện Kỹ thuật Quân sự nhưng thiếu điểm nên khăn gói vào Nam học ở trường này. Từ “kinh nghiệm” qua hai năm trên giảng đường Đại học Công nghiệp Hà Nội, Công tâm sự:
- Ngoài giờ học còn thực hiện các chế độ của quân đội, của Nhà trường nên thời gian dành ôn bài còn hạn chế. Bù lại, Nhà trường sáng tạo các mô hình cấu tạo, chuyển động cho học viên cóp-py về nghiên cứu nên khi thực hành nắm chắc hơn, tiếp cận vũ khí thuần thục hơn.
Có một thực tế phức tạp mà Tiểu đoàn 1 phải đảm nhiệm là quản lý lực lượng học viên, sinh viên không đồng đều về nhận thức. Theo kỹ sư, Thượng tá Đậu Công Thiết, Tiểu đoàn trưởng thì nguyên nhân là do khâu đầu vào. Những năm qua, tiểu đoàn tiếp nhận học viên từ ba nguồn gồm: xét tuyển các thí sinh không đủ điểm vào Học viện Kỹ thuật Quân sự, cử tuyển từ các đơn vị cử quân nhân đi học và dân tộc ít người. Chính điều này đã ảnh hưởng đến công tác quản lý và rèn luyện của học viên. Tuy nhiên, rất phấn khởi là các học viên đều xây dựng cho mình động cơ và thái độ học tập tốt, nghị lực phấn đấu vươn lên cao. Kết quả thi tốt nghiệp hàng năm có trên 55% đạt khá, giỏi và xuất sắc. Nhiều học viên tốt nghiệp cử nhân cao đẳng, ngành cơ khí chuyên dùng loại xuất sắc được phong quân hàm trung úy như Lê Anh Phong, quê Nga Sơn - Thanh Hóa, học K18, chuyên ngành Tăng - Thiết giáp; Nguyễn Văn Toàn, quê Chí Linh - Hải Dương, học K19, chuyên ngành vũ khí pháo phòng không v.v… Thượng tá Đậu Công Thiết cũng cho biết thêm, trước đây tiểu đoàn đào tạo bốn chuyên ngành, cả vũ khí pháo phòng không và pháo mặt đất, từ K20 trở đi chỉ còn chuyên ngành vũ khí bộ binh và Tăng - Thiết giáp.
*
* *
Trong những ngày lưu lại ở Trường Đại học Trần Đại Nghĩa, tôi tranh thủ ghé thăm cậu Út – em ruột của mẹ tôi - ở đường Phan Văn Trị, quận Gò Vấp. Hẳn sẽ không ai tin khi tôi và thằng Hai (tên gọi ở nhà) là anh em cô cậu mà hơn mười năm mới gặp lại. Nghĩa là từ hồi tôi nhập ngũ đến giờ. Thỉnh thoảng, cậu Út về quê dịp đám tiệc, giỗ chạp thì cậu cháu gặp nhau, hỏi thăm nhau nhưng thằng Hai ít khi về cùng, cậu nói nó khi thì bận học, khi thì ôn thi, đằng đẵng ngần ấy năm trời nếu gặp nhau ngoài đường chắc gì đã nhận ra. Cũng may, lần này tôi gặp nó ở nhà. Cậu kêu nó đi mua mấy chai bia về uống. Khi có tí men, nó dốc bầu tâm sự như để giải thích lý do vì sao nó ít khi về quê, thăm bà con họ hàng bên nội.
Hồi phổ thông, học lực của nó kém lắm, suýt chút nữa rớt tốt nghiệp. Sau khi không vào được đại học, nó xin cậu cho đi học ngoại ngữ - một nghề hot được nhiều bạn trẻ chọn lựa cho tương lai lúc bấy giờ. Nhưng nếu học phải ra tận quận 1 hoặc quận 3, mà nó chỉ mỗi chiếc xe đạp. Lân la dò hỏi nó biết Trường Cao đẳng Kỹ thuật Vin-hem Pích có mở trung tâm dạy ngoại ngữ, nó đăng ký học. Cậu Út nghe tin, mắng: “Con biết chỗ đó chuyên dạy gì không? Toàn là súng pháo, đạn dược cho quân đội, biết gì ngoại ngữ mà dạy. Tại sao con không kiếm trường chuyên mà học”. Nó nói chỗ này gần nhà, phương tiện đi lại cũng dễ, vả lại, tiền học phí cũng vừa phải, một số bạn bè nó cũng học ở đó mà. Mợ Út đứng về phe nó. Ban đầu cậu nhất quyết không đồng ý, nhưng sau rồi cũng xuôi theo. Sau khi nó thi lấy bằng A, lại học tiếp lấy bằng B, rồi bằng C. Cứ từng bước một, chậm rãi, chắc chắn. Bây giờ thì nó làm phiên dịch cho một công ty tư nhân, lương mỗi tháng gần hai mươi triệu đồng, nghe phát ham. Hớp xong ngụm bia, cậu Út cười cười: “Đôi khi mình cứ nhìn mọi cái theo đà cũ, chưa thức thời như bọn trẻ. Hồi đó nó mà nghe lời cậu giờ không biết làm gì nữa!”.
Thật ra tôi cũng không muốn kể câu chuyện này vì thằng Hai dặn tôi đừng viết báo, tôi đã không nêu tên nó như giữ một phần lời hứa của mình. Tôi biết, chả riêng gì cậu tôi mà đa số người dân đều có chung suy nghĩ về ngôi trường chuyên dạy súng pháo, đạn dược cho quân đội, ngay cái tên trường cũng biểu hiện tất cả rồi. Nhưng nào ai biết bên trong đó còn bao nhiêu ngành nghề đã và đang đáp ứng nhu cầu xã hội. Còn nhớ hồi năm 1999, khi chương trình đào tạo tin học vừa được nhà trường đưa vào giảng dạy còn non trẻ nhưng đã đạt hai giải ba hội thi phần mềm tin học các trường quân đội, năm sau đạt giải nhì hội thi cấp ngành về sản phẩm nghiên cứu khoa học - sáng kiến cải tiến. Đặc biệt, tại hội thi Rô-bốt “Đường đua trẻ” thành phố Hồ Chí Minh năm 2002, giải nhất thuộc về các thành viên đến từ ngôi trường chuyên dạy súng pháo, đạn dược này. Nếu như một trường đại học bách khoa đạt giải, tất nhiên sẽ vui, nhưng chắc rằng niềm vui ấy không to lớn bằng những người đạt giải không phải sở trường của mình. Rồi đến Robocon năm 2005 được tặng bằng khen, năm 2006 lọt vào vòng chung kết… Ngày đầu tiên cái gì cũng mới mẻ, bỡ ngỡ, thuận lợi thì nhiều mà khó khăn đâu phải không ít, song, trong điều kiện thiếu thốn cả cơ sở vật chất lẫn con người với kinh nghiệm thực tiễn hạn chế nhưng những thành tích ấy, dẫu còn khiêm tốn, vẫn đáng trân trọng và là niềm tự hào của thầy và trò ở trường chuyên dạy súng pháo, đạn dược! Xin nêu một ý nhỏ của Đại tá Trần Viết Triền, Chính ủy Nhà trường như sau: “Đội ngũ giảng viên dạy đại học, cao đẳng của Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự là các nhà giáo, cán bộ giàu kinh nghiệm, tâm huyết, trách nhiệm, trình độ năng lực tốt; lại thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bước đầu đã đạt được kết quả tốt trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học, cải tiến nội dung chương trình đào tạo và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật… Hiện nay, 100% cán bộ, giảng viên có trình độ đại học, trong đó trên 80% có trình độ từ thạc sĩ trở lên”. Điều này chứng tỏ rằng, trình độ khoa học - kỹ thuật của thầy và trò của trường ngày một nâng cao, có thể sánh vai với các trường đại học tiên tiến trong và ngoài quân đội, xứng đáng với ngôi trường mang tên Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa.
Tôi chợt nhớ, có lần ngồi uống trà với Thiếu tá Lê Anh Dũng, Trợ lý Tuyên huấn, Phòng Chính trị của trường, anh cho biết Nhà trường được thành lập ngày 27 tháng 5 năm 1978 được mang tên vị Chủ tịch đầu tiên của nước Cộng hoà Liên bang Đức - Vin Hem Pich, là bạn thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi thắc mắc sao không lấy tên Trường Đại học Vin-hem Pich? Bởi lẽ, tên trường đã nằm trong tiềm thức và suy nghĩ của con người phương Nam nói riêng, cả nước nói chung, nhất là các thế hệ đã và đang công tác trong ngành kỹ thuật quân sự, đó là chưa kể đến hàng ngàn học viên, sinh viên tốt nghiệp các ngành: Công nghệ thông tin; truyền thông và mạng máy tính; công nghệ kỹ thuật ôtô đang phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Anh Dũng trầm ngâm giây lát rồi cho rằng, cũng có nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề này, trong khi đó cùng lúc tất cả các trường đại học trong quân đội đều lấy tên một vị doanh nhân đất Việt phù hợp với vị thế hoặc tương đồng với chức năng hoạt động của mình. Ví như Trường Đại học Nguyễn Huệ, Trường Đại học Trần Quốc Tuấn… Dĩ nhiên, khi đổi tên thành Trường Đại học Trần Đại Nghĩa cũng có lý do đặc biệt riêng.
Trên đường từ Tiểu đoàn 1 về Ban Giám hiệu, anh Dũng dừng lại trước một tấm pa-nô màu đỏ, chữ vàng, ghi tóm tắt quá trình hoạt động của Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa - một kỹ sư quân sự, một nhà khoa học lớn, cũng như một nhà quản lý khoa học kỹ thuật cấp cao, được tôn vinh là “cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam”. Cuộc đời của “Ông Bụt làm súng” này trải qua nhiều cương vị lãnh đạo cao cấp khác nhau nhưng là tiêu biểu cho ý chí của thanh niên vượt khó, giàu lòng yêu nước, hết lòng phụng sự Tổ quốc lúc bấy giờ.
"Năm 1913, Lý Thị Diệu - người vợ tảo tần mộ đạo Phật của thầy giáo nghèo yêu nước dạy học ở Vĩnh Long Phạm Quang Mùi hạ sinh một con trai đặt tên là Phạm Quang Lễ. Tuy nhà nghèo nhưng Phạm Quang Lễ học rất giỏi, khi cha mất, chị gái Lễ phải xin nghỉ học ở nhà cùng với mẹ tần tảo tạo điều kiện cho ông học hành đến nơi đến chốn. Năm 16 tuổi, Lễ tốt nghiệp bậc tiểu học hạng ưu, rồi thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho và được nhận học bổng trong bốn năm học. Năm 20 tuổi, Lễ thi đỗ vào trường Trung học đệ nhị cấp, ông lên trường Petrus Ký – Sài Gòn và vẫn là học trò học giỏi nhất lớp, đậu học bổng liên tục ba năm liền. Đến 1933, ông đỗ đầu kì thi tú tài bản xứ, sau đó thi tú tài Pháp ban toán cũng đỗ đầu rồi tú tài Pháp ban triết đỗ hạng ưu. Tiếng học trò Lễ từ Vĩnh Long lên Sài Gòn học giỏi thời bấy giờ ai cũng biết. Nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền đi Hà Nội học tiếp, Lễ quyết định về làm cho toàn sứ Mỹ Tho để giúp mẹ giúp chị, đồng thời nuôi chí vươn lên, chờ thời cơ.
Năm 1935, Phạm Quang Lễ gặp nhà báo Dương Quang Ngưu - một Việt kiều từ Pháp về vào làm việc ở tòa bố Mỹ Tho. Nhận thấy những tư chất thông minh hiếm có cùng quyết tâm đi xa hơn học hành để giúp đất nước của Lễ, lại được biết Lễ là con của thầy giáo Phạm Quang Mùi, nhà báo Dương Quang Ngưu đã vận động Hội ái hữu trường Chasseloup Laubat cấp cho Lễ một năm học bổng học tại Paris. Thời gian ở Pháp, Lễ phải đi làm thêm để có tiền trang trải cho việc học, đồng thời, tự mày mò nghiên cứu âm thầm các tài liệu liên quan đến chế tạo vũ khí. Kết quả là sau 11 năm học, Phạm Quang Lễ đỗ nhiều bằng kỹ sư và cử nhân toán học ở các trường: Điện, Mỏ, Bách khoa, Học viện Kỹ thuật hàng không, Học viện Thống kê, Viện khí động học… Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí. Tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Pháp thương thuyết với Bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet. Dịp này, Phạm Quang Lễ theo đoàn Việt kiều sang Pháp thăm Bác và quyết định theo Người về nước, tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Quang Lễ lên Thái Nguyên cùng cán bộ công nhân xưởng Giang Tiên tiến hành nghiên cứu chế tạo đạn badôca, một loại vũ khí mới chủ yếu đánh xe tăng thời đó. Tháng 11 năm 1946, ông đã chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng badoca 60 mm và 50 quả đạn. Ngày 5-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp trực tiếp giao trọng trách cho ông làm Cục trưởng Cục quân giới, đồng thời, đặt tên cho ông là Trần Đại Nghĩa, như để nhắc nhở ông trách nhiệm vô cùng quan trọng của mình và cũng là bảo vệ gia đình ông ở miền Nam.
Cuối tháng 2 năm 1947, Công binh xưởng dưới sự chỉ đạo của Trần Đại Nghĩa đã sản xuất thành công súng badôca với độ xuyên sâu 75cm trên tường thành gạch xây tương đương với sức nổ xuyên của đạn badôca do Mỹ chế tạo. Ngày 5 tháng 3 năm 1947, đạn badôca vừa xuất xưởng đã được sử dụng bắn cháy 2 xe tăng của quân Pháp tại vùng chùa Trầm (Hà Đông). Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của quân Pháp ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai. Trong chiến dịch Thu Đông năm 1947, súng badôca còn bắn thủng cả tàu chiến Pháp ngược dòng sông Lô lên Việt Bắc. Vũ khí của Việt Nam lúc này rất hiếm, riêng badôca là loại vũ khí quí. Trong lịch sử chiến tranh badôca xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1943, đối với một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, quả là một huyền thoại. Sau đó, ông cùng các cộng sự nghiên cứu chế tạo thành công súng không giật SKZ, xuất hiện lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô-cốt của Pháp có tường bê-tông dày hơn một mét. Tiếp đó, ông nghiên cứu và chế tạo đạn bay. Và ông cũng đã thành công loại tên lửa nặng 30 ki-lô-gam có thể đánh phá các mục tiêu cách xa bốn ki-lô-mét…
Năm 1948, Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm Thiếu tướng, là một trong 10 vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, lúc đó ông mới 35 tuổi. Bốn năm sau ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quân đầu tiên tổ chức tại Việt Bắc.
Giới khoa học quân sự Việt Nam ghi nhận Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa: “Là một trí thức đi học ở Châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi những người công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành. Ông là một người sống rất giản dị, mẫu mực, hiền lành bao dung với mọi người được nhân dân cả nước và đồng nghiệp yêu quý, mến phục. Ông còn là người đại diện xuất sắc cho đội ngũ khoa học Việt Nam. Dù ở cương vị nào ông cũng qui tụ được đội ngũ trí thức, đoàn kết họ, hướng họ vào mục tiêu xây dựng một nền khoa học Việt Nam hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Ông đã thu phục được nhiều người nhờ đức độ, trí tuệ của mình. Các công trình nghiên cứu của ông còn được quốc tế đánh giá cao. Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa là một nhà khoa học lớn rất yêu nước, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và thiết tha với sự nghiệp khoa học. Cả cuộc đời, ông đã luôn chăm lo, bồi dưỡng và đặt nhiều kỳ vọng vào lớp trí thức trẻ góp sức làm vinh quang cho Tổ quốc”. Đúng ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30-4-1975, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa viết vào sổ tay: “Nhiệm vụ của Bác giao cho tôi và tập thể các nhà khoa học Việt Nam là tham gia về mặt vũ khí và khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã được hoàn thành. Từ nay đến hàng nghìn năm sau chúng tôi xin bàn giao lại nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ ngày nay và thế hệ mai sau”.
Thiếu tá Lê Anh Dũng kể rằng, hồi giữa thập niên 1980, khi đang là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đã đến thăm Trường Sĩ quan Kỹ thuật Vin-hem Pich. Trong bài nói chuyện của mình trước thầy và trò Nhà trường, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa có nêu lên ước vọng về một trường đại học kỹ thuật quân sự ở thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo nhân lực góp phần hiện đại hoá nền quốc phòng đất nước.
Tiếc rằng, khi ước vọng của ông thành hiện thực thì ông đã... mất trước đó ba năm!
HỒ KIÊN GIANG