Ghi ở Hương Ngải
Ngày đăng:  

LTS: Nhìn lại để đi tiếp, để cố gắng phấn đấu vươn tới những thành tích mới; ôn cũ để biết nay, để suy ngẫm sâu sắc hơn những gì mình đã làm được và chưa làm được. Với tinh thần ấy Tạp chí Văn nghệ Quân đội xin giới thiệu ghi chép của nhà văn Ngô Thảo - nguyên Trưởng ban Lý luận phê bình Văn học của tạp chí. Mong ý kiến đóng góp của đông đảo bạn đọc.

 

(Hương Ngải - Nơi VNQĐ sơ tán lần II tháng 5/1972, thuộc huyện Thạch Thất - Hà Tây cũ)

(Phần một)

NGÔ THẢO

Dạo đó, Văn nghệ Quân đội sơ tán về Hương Ngải, một xã có đời sống khá giả thuộc huyện Thạch Thất, Hà Tây: nhà mái ngói, tường và đường lát đá ong. Nền nhà, sân phơi đều tráng xi măng. Các gia đình tự nguyện dọn xuống nhà ngang chung với bếp, nhường nhà trên thường là thoáng, rộng cho các anh ở VNQĐ, có lúc có người mang theo cả gia đình.

Nhà văn Nguyễn Đình Thi theo cơ quan Hội Nhà văn sơ tán ở mạn Sấu Giá, thỉnh thoảng lại sang chơi với Vũ Cao, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hồ Phương, Hữu Mai…

Mới từ chiến trường Trị Thiên ra, được điều về tạp chí (sau này anh Nhị Ca nói: Tớ phải tam cố thảo lư mới điều được cậu về) tôi chỉ biết ngồi hóng hớt. Thỉnh thoảng về ghi vào sổ tay một số buổi trò chuyện văn chương ấy. Rất tiếc là do không có ý thức nghiêm chỉnh nên việc ghi chép không đều. Giờ sổ tay chỉ còn lại một ít trang.

Xin chép lại như một tư liệu về đời sống văn nghệ những ngày còn đánh Mỹ.

 

25/5/1972

NGUYỄN ĐÌNH THI (N.Đ.T):

- Một tác phẩm hay không phải bao giờ cũng là một tác phẩm toàn bích với nghĩa tròn trịa, đủ đầy mọi thứ! Và lắm khi không phải ở ngay những chuyện nói trực tiếp trong tác phẩm. Nó còn là một cái gì sâu kín hơn đi cùng với tất cả đó.

Văn học nước mình hơn 20 năm qua bị úm trong Bài nói Văn nghệ ở Diên An, làm cho nó bị gò bó, khô khan, nông nhạt, què quặt trong nhiệm vụ phục vụ Công - Nông - Binh.

Nguyễn Minh Châu (N.M.C): - Bây giờ đã hết chưa?

N.Đ.T                            : - Đến giờ thì đã bắt đầu gỡ ra

N.M.C                           : - Nhưng cũng còn lâu đấy, anh ạ

N.Đ.T                            : - Trở lại xem văn học mình khoảng những năm 1946-1950 hay biết bao nhiêu trong viết về chiến tranh và con người, trong các tác phẩm của Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng… Chỉ từ khi nhập Trời hửng (của Vương Lực) với Triệu Thụ Lý v.v… mà chúng ta mất đi cái hay đó.

Ông Nguyễn Tuân là người cái danh lớn hơn cái tài thực. Trước sau chỉ có hai cuốn là hay: Trước cách mạng là Vang bóng một thời, và sau này là Sông Đà. Mà văn chương Vang bóng một thời hay hơn. Đây là một thứ văn trong sáng, tinh tế trong kiểu thức của nó. Đến Sông Đà đã quá cầu kỳ, rắc rối, chữ nghĩa.

Nam Cao là một người sống rất tốt, rất chân tình nhưng trong đời, tăm tiếng không có gì nhiều.

Nguyễn Huy Tưởng hiểu nhiều, biết rộng, tài hoa nhưng văn chương chưa bộc lộ hết con người. Trước cách mạng, tác phẩm hay nhất là về kịch.

(Hồ Phương: - Bắc Sơn mới nhưng vội vàng quá. Những người ở lại là một loại Lôi Vũ cải biên). Hay nhất là Vũ Như Tô. Văn chương đối thoại có thể gọt bớt nhưng đúng là một vở kịch hay. Nhưng phải nhận là khó diễn.

Bao nhiêu tâm huyết để cả vào Sống mãi với Thủ đô thì lại bỏ dở. Cái hiện có là bản viết đầu tiên, chưa kịp chữa.

Văn chương thế giới vẫn có hai loại: Một loại tiểu thuyết có tính chất luận đề, lấy tri thức làm chính, nó dùng toàn bằng lý trí, hiểu biết sách vở để chứng minh cho một luận đề nào đó. Văn học Pháp đang phát triển kiểu viết này. Còn có loại văn học lấy đời sống làm gốc, phản ánh những vấn đề của đời sống. Văn học Nga, văn học nước ta thuộc loại này. Nó ăn nhau ở vốn sống. Mỹ cũng thế. Đời sống nhà văn nước họ nó phong phú, ly kỳ lắm. Mà có vậy tác phẩm mới hay. Còn ở Pháp, nhà văn thường là những nhà trí thức. Có một vài người là công nhân nhưng rất hiếm. Loại văn chương đó có cái hay của nó nhưng nói chung là khô khan, gò gẫm. Nhưng loại thứ hai viết cho hay cũng rất khó. Mình cứ đi theo ông Tônxtôi, ông Đôt (Dostoiepxki) thì đến bao giờ mới vượt được họ? Nước Nga thế kỷ XIX, đó là nơi có những đỉnh cao của tiểu thuyết, mà đến giờ chưa ai vượt qua được.

Trong chiến tranh, văn học nghệ thuật nước nào cũng vậy, bao giờ cũng phải chịu những hạn chế nhất định. Nhà văn lúc đó chỉ có thể là người thổi kèn, đánh trống! Làm sao mà viết trung thực về chiến tranh được. (Yêu cầu chính trị, yêu cầu động viên, yêu cầu bí mật, yêu cầu tất cả cho chiến thắng… không cho nhà văn và văn học lửng lơ, khách quan). Sự thực trong chiến tranh không thể là toàn bộ sự thật. Nhưng chết chóc, hy sinh, đau khổ, mất mát còn lại rất lâu. Những vẫn đề của chiến tranh nhiều năm sau giải quyết không hết, nhưng trong chiến tranh, không thể nói to lên, nói hết, mà phải nén lại, phải giấu đi, nếu không cũng lờ đi. Yêu cầu chiến thắng đòi hỏi phải như thế. Và thế là hoàn toàn đúng, hoàn toàn nhân đạo. Nhà văn sẽ phi chính trị, vô lương tâm, khi anh lạnh lùng phanh phui tất cả những cái đó, khi anh nói ra, người ta có thể nhổ vào mặt anh: Anh bôi nhọ chúng tôi, anh là người giả dối, xuyên tạc sự thật. Nhưng đó vẫn là một sự thật không thể chối cãi. (Lời nói sẽ trôi đi với thời gian - chỉ sự thật là còn lại - (mình nghĩ thêm).

Văn học Liên Xô trong chiến tranh cũng vậy thôi. Họ chiến đấu vì Tổ quốc có ra gì đâu.

Hải Hồ: - Nhưng Simônốp sau này lại viết về chiến tranh: Những người còn sống và những người đã chết vẫn không thể nói là hơn trong chiến tranh, sức hấp dẫn, sinh động vẫn thua Mùa xuân trên sông Ôđe.

N.Đ.T: - Nhưng nó có những vấn đề trong chiến tranh không nói được. Sự hèn nhát bên những người anh hùng, những sai lầm, khuyết điểm của Bộ chỉ huy tối cao. Và hiện nay, đó vẫn là người viết về chiến tranh hay nhất. Tất nhiên Simônôp cũng không phải là tài năng lớn, và những năm gần đây, văn học Liên Xô cũng không có những nhà văn xuất sắc. Aimatốp cũng chỉ được biết chủ yếu ở trong nước (1972), đó là một nhà văn người dân tộc thiểu số. Đối với phương tây, ông ta cũng có được mấy ai chú ý đâu.

N.M. C: Văn học Việt Nam ở Liên Xô là thế nào anh?

N.Đ.T:  Ở Liên Xô người ta thích nhất Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài. Đó là một cái gì rất lạ, họ không có. Còn những thứ khác xem ra đều có cả. Có thể kể thêm Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng. Còn Nguyễn Công Hoan cũng không đắt khách. Nam Cao hay nhưng cũng không được ưa chuộng bởi vì ở họ đã có một người đứng ở cổng quá lớn về những đề tài như thế: Tsêkhôp! Không thể vượt được. Miền Tây có lẽ sắp in nhưng biết chắc là cũng sẽ ế. (chỉ được chương đầu tả cảnh là lạ với cả phong tục, còn phần sau thì xoàng).

Còn tiểu thuyết theo hướng Tônxtôi, Đôt thì làm sao vượt được họ. Cái khổ của mình vẫn là thiếu trí thức. Nhà văn các nước họ học, họ đọc rất nhiều. (Hội đã định dịch một số sách hay nước ngoài, in giấy xấu, chữ nhỏ, bán rẻ, khoảng 120 cuốn thôi, cho anh em đọc). Lớp mới bây giờ ít đọc quá!

Còn kiểu Đỗ Chu, Như Trang thì chỉ là học trò Pautôpxki thôi, làm sao mà theo kịp họ. Vì lực lượng dịch quanh quẩn có mấy người: Alosin, Macarôp, Tscasep…. Liên Xô giờ có hiện tượng các nhà Hán học quay sang nghiên cứu Việt Nam, đọc văn học cổ Việt Nam bằng nguyên bản. Họ đang định dịch  Hoàng Lê Nhất Thống Chí! Còn văn học Trung Quốc thì có gì nữa mà nói!

N.M.C: - Buồn cho ông Thi người đề tựa Vỡ bờ lại là B.Pôlêvôi, người chuyên viết chuyện người thật việc thật.

(Mình nghĩ : Âu đó cũng là sự đánh giá của các nhà văn Liên Xô!)

N.Đ.T: Tôi bây giờ đã được giải phóng khỏi chức vị, đã có thể ăn nói tự do được rồi.

Sự nghèo nàn về hiểu biết là một nỗi khổ, một thiệt thòi lớn. Tôi đọc một cuốn truyện trong thần thoại Hy La. Chuyện đã hàng nghìn năm mà đọc lại vẫn thấy kỳ lạ. Viết thế thì tài thật. Tôi đã kể các ông nghe bao giờ chưa nhỉ? Chưa à? Đó là chuyện Con lừa vàng (chỉ độ trăm trang). Có thể tóm tắt thế này: Có hai anh em nhà nghèo phải đi làm thuê cho một bà chủ. Đó là một người đàn bà có phép thuật. Có lần thấy bà chủ hoá quạ, người anh xin cô hầu phòng hoá phép cho mình. Cô đồng ý cho cậu uống thuốc để hoá thành con lừa, với điều kiện bao giờ muốn trở lại thành người thì phải ăn thật nhiều hoa hồng. Một hôm có bọn cướp vào cướp trang trại, tất nhiên chúng đưa lừa đi, và từ đó lừa phải chuyên chở nặng nề những thứ chúng cướp được. Dẫu đã thành lốt lừa, nhưng y vẫn nghe, hiểu được tiếng người. Đến bữa ăn được thức ăn của người. Thấy có món hời đắt giá, bọn cướp bán lừa cho một gánh xiếc. Từ đó chính con lừa thông minh và kỳ lạ đã mang lại rất nhiều khán giả cho gánh xiếc. Một trong những khán giả thường xuyên là một mệnh phụ đã bỏ ra một món tiền lớn để mua bằng được chú lừa. Đưa về nhà bà cho gia nhân săn sóc lừa chu đáo, cho ăn uống cao lương mỹ vị, và bắt lừa làm cái việc không thể nói được ấy. Lừa sợ bà có thể nguy hiểm tính mạng. Nhưng khi thực hành lại thấy không thấm tháp gì với nhu cầu của bà. Lời đồn đại bay ra ngoài. Lừa và bà đều bị bắt.




Có một người đàn bà goá bị vu tội giết chồng, Toà xử buộc bà ta phải lấy con lừa làm chồng. Họ tổ chức một đám cưới rất to. Giường cưới được trải đầy hoa hồng. Nhiều người tò mò đến xem. Lừa được dịp ăn bằng thích thảm hoa. Và lời nguyền đã nghiệm: Lừa rùng mình hoá thành người. Anh ta được nói ra sự thật. Bà mệnh phụ bị tù được tha.

Một ngày kia, nhớ tới bà, anh ta tìm tới. Bà tiếp đãi tử tế, cho ăn một bữa no nê rồi dứt khoát đuổi đi với lời từ chối:

- Không thấm gì! Không thấm gì!

Một chuyện không đâu mà họ kể rất hay, nội dung sâu, và đến như cái kết thì tôi không thể nghĩ ra được.

Khi tôi sang Liên Xô, tưởng là mình biết một chuyện hay, định kể với họ, cũng có ý ngầm khoe với họ, hoá ra không có ai thấy bất ngờ cả. Vì họ đã biết Con lừa vàng từ xưa rồi.

(Nhiều lần rỗi rãi, ông kể chuyện về Văn hoá Cứu quốc, quá trình hình thành và hoạt động văn nghệ trước sau cách mạng, công tác ở Quốc hội với tư cách đại biểu trẻ nhất những năm 1945-1946, rồi lý do tham gia hoạt động, bị bắt, bị đi tù, sau đó về viết liền một mạch 10 cuốn giới thiệu các nhà triết học lớn).

Rất tiếc, do chỉ quan tâm tới lý luận sáng tác, tôi đã không ghi được những tư liệu đó.

Văn học ta có những cái hay của đời sống phong phú và khác lạ. Thực ra tài nghệ so với thiên hạ cũng không kém gì. Có điều chưa phải lúc ta phát triển như họ. Để như họ (tự do), ta không kém. Văn chương ta bây giờ thật thà quá. Nó là do chiến tranh, hơi xa chiến tranh ra, ta sẽ có những tác phẩm hay. Ngay những năm 60 đã là như thế.

Hải Hồ: - Thực ra dạo đó là do ảnh hưởng văn học xét lại của Liên Xô.

Vũ Cao: Tôi vừa đọc bài Vũ Khiêu viết về Đạo đức Hồ Chủ tịch.

Viết như thế thì khó chịu thật. Toàn những chuyện khô khan chung chung cái gì cũng Tố Hữu. Làm sao có thể nghèo nàn như thế ! Còn về văn học thì toàn khái quát, tầm, cỡ v.v… toàn những chuyện quá cũ rồi. Lý luận văn học, phê bình mà như thế thì gay lắm.

Người ta hô hào nghệ thuật là sáng tạo mà họ lại là người ít sáng tạo hơn ai hết. Mà ông có phải là người ít biết đâu. Có khoảng cách khá xa, thậm chí trái ngược giữa điều người ta nghĩ, ta thích, ta muốn với điều người ta viết, người ta nói, người ta làm!

Cuộc sống phát triển, nghệ thuật phải phát triển, nghĩa là những quy luật, những vấn đề của nó cũng phát triển, thì làm sao lý luận có thể đứng lại mãi trên chỗ đứng của mình, dù vị trí đó đã từng là một đỉnh cao trong quá khứ! Lý luận, phê bình của mình hiện nay tách khỏi đời sống, cả đời sống văn học nghệ thuật một cách khủng khiếp.

(N.T: Đó là cái nguy cơ của văn học ta: khi tư tưởng chưa được phát triển thì đã bị trói buộc, gò bó trong những bộ khung xương lý luận khô cứng đưa từ những nền văn học khác vào - không chỉ là tư tưởng văn nghệ Diên An, mà cả lý luận văn học Xô Viết cũng vậy).

Chưa có tư tưởng mà đã khái quát, chưa phát triển hết tầm mà đã đem những kích thước cũ ra gò bó, nên văn học ta chóng già là vì thế! Chóng già theo kiểu còi cọc. Lý luận thì cổ quá mà lại nắm vai trò lãnh đạo nên kìm hãm, hạn chế sự phát triển của văn học.

Bất cứ cái gì muốn phát triển phải qua thực hành, thí nghiệm. Văn học do tác dụng của mình, không thể thí nghiệm như khoa học tự nhiên, nhưng cũng phải được tìm tòi, sáng tạo trên hướng của nó. Ở ta, những thứ đó đã bị bóp chết ngay từ trong ý đồ thì còn đâu sức phát triển! Cái nguy của văn học ta là không được viết những cái muốn viết, mà viết những cái được yêu cầu - một yêu cầu không phải bao giờ cũng đúng.

Tôi nghĩ, trong chủ nghĩa Marx, cái điều lớn, khoa học nhất, cách mạng nhất là quan điểm thực tiễn. Tất cả các lý luận, triết học khác cũng có cơ sở của nó, nhưng nó đều chết khi vào thực tiễn. Mà con người ta lại hơn thua nhau ở ngay trên nền đất của thực tiễn. Lý luận ta kém vì không bám sát thực tiễn văn học ta, mà thu nhận vô điều kiện từ những nền văn học khác.

Trong nghệ thuật không thể cầu toàn. Mỗi tác giả, tác phẩm chỉ có thể có một cái gì đó đóng góp, và cũng chỉ nên yêu cầu như thế thôi.

Người ta thường cứ lẫn lộn yêu cầu đối với một nền văn học và từng tác phẩm, tác giả.

(N.T: Nói chung, văn học nghệ thuật ta chưa được đặt đúng vị trí của nó. Hiện vẫn xem nó là một công cụ tuyên truyền trực tiếp của công tác chính trị, nằm trong công tác tuyên huấn. Mục đích thì đúng nhưng thực ra cũng không phải như vậy. Văn học nghệ thuật cần được mở rộng trong những tìm tòi, suy nghĩ như một quá trình đi tới của nhận thức, cũng tức là quá trình nhận thức. Còn những gì thuộc công tác chính trị là phải bảo đảm đúng đắn, chắc chắn cả rồi. Và trong công tác đó, vì chức năng, nhiệm vụ của nó, nó phải gạt đi những thứ không, phục vụ trực tiếp, những thứ nửa vời hoặc không hoàn toàn ngả màu. Mà văn học, với tư cách là tấm gương phản ánh đời sống, không phải bao giờ cũng được chọn lựa dứt khoát như vậy).

Sự nghèo nàn, bó buộc của văn học mà ai cũng cảm thấy có nguyên nhân ở đó. Đặt đúng vị trí của nó, có lúc văn học đi sau nhưng cũng có lúc đi trước đời sống. Có lúc nó sẽ làm phiền chính trị, nhưng cũng nhiều lúc nó giúp cho chính trị sáng suốt hơn: Phát hiện những vấn đề của đời sống. Còn trong tình hình hiện nay mà đòi văn học phát hiện những vấn đề lớn là một điều không tưởng, hay không hiểu tình thế. Một nền văn học bị công tác chính trị xỏ mũi dắt đi thì có giỏi cũng chỉ bằng công tác chính trị, không thể đi trước hơn và càng không thể độc lập được. Dĩ nhiên không ai phản đối nhà văn phải có lập trường chính trị, có ý thức phục vụ, và có ý thức tổ chức. Vấn đề ở đây là không nên bắt buộc biến văn chương thành công cụ tuyên truyền, phụ thuộc công tác tuyên truyền, luôn phải chạy theo những mục tiêu trước mắt. Mà xưa nay vẫn như vậy. Không có một nhà tuyên truyền nào lại nói ra một sự thật tuyệt đối. Không đáng trách công tác tuyên truyền. Vì đó là chức năng của nó. Tuyên truyền chính nghĩa không xuyên tạc sự thật, nhưng cũng có thể không nói hết sự thật (nhiều sự thật không có lợi, không nói. Mà thế là phải).

Văn học phản ánh con người và cuộc sống, nếu ở trong vòng kiềm toả đó, sẽ đẻ ra những tác phẩm thiếu chân thực nếu không muốn nói là xuyên tạc hiện thực. Mục đích của tuyên truyền là giành thắng lợi cho một phía. Nhưng văn học là phục vụ cuộc sống trên cơ sở nghiên cứu và phản ánh chân thực những quy luật bền vững của cuộc sống nhân sinh.

Yêu cầu đối với công tác phê bình cũng như yêu cầu mà phê bình đặt ra cho văn học vì thế đều không xác đáng, và thiếu quan điểm thực tiễn.

Ông Nguyễn Đình Thi nói chuyện với mình rất phiền lòng thấy các nhà phê bình lấy tư tưởng nhân vật để đánh giá tư tưởng tác giả, xem tư tưởng nhân vật là tư tưởng tác giả.

Tôi nghĩ, ông ấy nói thế là phải. Cô Phượng của ông Thi thì có gì mà phải phê phán. Riêng tôi, tôi không đồng ý. Phượng hoàn toàn không phải là một hiện tượng cá biệt, chứ không nói là không hiện thực. Chúng tôi là gì nếu không phải là một kiểu Phượng? Chúng tôi đi từ những con đường rất khác nhau mà đến với Cách mạng. Vả lại, có phải ai cũng tới với Cách mạng từ những nhận thức lý trí sáng tỏ đâu. Đa số trí thức ta khi cách mạng bùng nổ đều rất ngơ ngác, không biết cái gì, không biết thực hư ra là thế nào, rồi sẽ đi tới đâu. Họ tới với cách mạng bằng rất nhiều con đường, nhiều động cơ khác nhau. Có người tìm tới cách mạng để chờ một sự đổi thay, một sự xê dịch, một sự bất đắc chí, hay lao theo một con đường không biết thế nào, rất phiêu lưu và vì thế mà thấy thú vị. Tại sao ta cứ gò lại, làm khô cằn, nghèo hiện thực đi? Và bắt hiện thực đi theo quan niệm của mình? Mà thật lạ, người phê bình cũng là người đã sống trong cuộc, từng hiểu điều đó.

 

10/9/1972

Vũ Cao: Thỉnh thoảng, nhẩm lại, có những câu thơ làm mình kinh ngạc. Chữ nghĩa không có gì, hình tượng cũng chẳng có, mà không bao giờ mình đi hết chiều sâu của nó.

                        Mai sau dầu có bao giờ!

Có chữ gì trong đó? Không. Cũng chẳng có hình ảnh, từ ngữ nào hết. Mà đọc xong cứ choáng ngợp cả người : tôi nghĩ, thơ thật là thơ là những câu như thế. Đó là những câu thơ đáng sợ.

Còn tìm được cái hay ở chữ này, ý nọ thì cũng thường tình vậy thôi.

 

20/6/1972:

Một hôm, ông Yên, ông Vũ Chính, ông Khắc Trình (các cán bộ cấp trên ở Tổng cục Chính trị và Cục Tuyên huấn) tới thăm tôi ở nhà. Tôi bị ốm, phải đắp chăn, dẫu đang mùa hè, gối đầu bằng mấy cuốn sách, tôi không có gối riêng. Các ông tới đột ngột, tôi phải vùng dậy, và tôi nói với các ông: - Ông Yên này, tôi đọc thơ cho các ông nghe nhé:

                        Dăm pho sách cũ bên đầu

          Tưởng đâu như gối mối sầu cổ nhân

Đó là thơ thằng Hồng Nguyên, bạn tôi ngày xưa. Mà nó làm thơ khi đã già đâu! 17, 18 tuổi thôi đấy.

Các ông giật mình đến kinh ngạc.

Mà nó, tôi nghĩ, không thể sống lâu được. Bởi vì nó luôn luôn có một tâm sự gì buồn lắm. Tuổi trẻ mà không vui. Đi làm cách mạng cũng không vui. Làm việc hăng, hùng hục, nhưng cứ buồn. Nó không thể sống thọ được vì thế.

Còn trẻ mà thâm nho. Đọc Chinh phụ ngâm chữ Hán vanh vách. Còn định dịch ra thơ tự do theo thể hành nữa kia. Bài Nhớ thực ra tôi không thích lắm. Nó chưa lộ hết tài của Hồng Nguyên. Có cái gì đó đơn giản quá! Nó tài hoa hơn nhiều.

N.T: - Có những người như vậy anh ạ. Có những đỉnh cao từ thuở tráng niên mà một đời không vượt qua được. Cái chết tạo nên một nỗi tiếc thương lớn hơn. Thâm Tâm có lẽ cũng thế. May là sau này anh ít làm thơ. Nếu có gì cũng dễ làm nhạt Tống biệt hành mà thôi.

V.C: Thâm Tâm cũng vậy. Sống với anh ấy một thời gian ở báo Cứu quốc quân tôi thấy anh ấy là một người sống khắc kỹ, nghiêm túc đến cứng nhắc. Một con người phủ định hết tất cả dĩ vãng. Sống với con người khô khan, xấu xí - cả làng Hương Ngãi này không ai xấu đến thế. Thằng Điệp, thằng Khánh, con ông Hải Hồ còn đẹp hơn (Hạnh - con gái nhà thơ xen vào: So với Cường nhà mình thì sao? - Cường còn là Hoa khôi!). Tôi cứ ngạc nhiên và không thể tin là anh ấy đã làm ra những dòng thơ như thế: Đưa người ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng. Nói chung, dạo đó, ở báo Cứu quốc quân anh ấy không thích và tự mình cũng không nhận những gì của dĩ vãng. Tôi rất lạ. Một đêm mưa, giữa rừng Việt Bắc, trong nhà sàn, nghe tiếng suối xa, tiếng mang tác, anh ấy uống mấy chén rượu men lá ngà ngà. Tôi còn trẻ định thử xem tại sao? Tôi nói liều: - Này, anh có thích nghe tôi đọc thơ không? Không kịp cho anh ấy trả lời, tôi đọc luôn cho anh ấy một bài thơ ít người biết, cũng nói về chia ly, nhưng nếu Tống biệt hành là của một cá nhân thì đây là của hai tập thể.

Tôi đọc. Anh ấy nước mắt chảy ròng ròng.

Anh thật sự kinh ngạc, tại sao một thằng thanh niên mới 18 tuổi là tôi mà thuộc lòng một bài thơ không ai thuộc, đồng cảm với một nỗi buồn lớn, một bài thơ nhiều chữ cổ như thế.

- Tại sao? Tại sao cậu thuộc được? Anh ấy hỏi dồn dập.

Nhưng chỉ giây phút ấy thôi. Rồi sau đó, anh ấy tuyệt nhiên xem như không có việc gì xảy ra, không bao giờ nhắc lại chuyện đó.

Một chiều, trên đường công tác, tôi nghe tin Thâm Tâm mất. Tôi buồn thật sự. Và là lần đầu tiên tự cho phép mình vào quán uống mấy chén rượu giải sầu, vừa để tưởng niệm người anh - Chủ nhiệm báo Cứu quốc quân dạo đó. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ nguyên cả bài Vọng nhân hành, một bài không dễ thuộc và không phải có nhiều người biết đâu:

                                    Thăng Long đất lớn chí tung hoành

                                    Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh

                                    Một lứa chung tình từ tứ chiếng

                                    Hội nhau vầy một tiệc quần anh…

                                    Thơ ngâm dở giọng, thời chưa thuận

                                    Tan tiệc quần anh, người nuốt giận

                                    Chim nhạn chim hồng rét mướt bay

                                    Vuốt cọp chân voi còn lận đận…

 

NGÔ THẢO

Chưa có bình luận
1
Mục: 1 - 0/0

Họ tên:
Email:
Nội dung:
Ảnh xác nhận:
 
  
 
Nguồn tin
Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội

Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội


Add: Số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội
Tell: (84-4) 8454370
Email: info@vannghequandoi.vn
Website: http://vannghequandoi.vn
Các bài cùng nguồn